Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘PHÙNG LIÊN ĐOÀN’ Category

LỜI DẪN CỦA TUẦN VIỆT NAM: (22/04/2009)

Vì minh bạch là rất cần thiết, việc đầu tiên là phải nói cho rõ ai là người đã viết ra bài này.

Ông Phùng Liên Đoàn, năm nay 68 tuổi, là một khoa học gia và doanh nghiệp tại Mỹ. Ông xuất thân người làng Bát Tràng nay thuộc Hà Nội. Ông học trung học Nguyễn Trãi ở Hà Nội và Petrus Ký (nay là Lê Hồng Phong) ở Sài Gòn. Ông đi du học năm 1958 ở Mỹ, đậu Cử Nhân Vật Lý và Cử Nhân Toán tại Florida State University; và Thạc Sĩ Vật Lý và Thạc Sĩ Nguyên Tử tại Massachussetts Institute of Technology (MIT). Ông về nước làm việc năm 1964 tại Trung Tâm Nguyên Tử Đà Lạt. Ông đi Mỹ lại năm 1967, vừa làm việc vừa đi học, và đậu bằng Tiến sĩ Nguyên Tử năm 1972 tại MIT.

Từ 1967 tới 1975 Ông Đoàn đã làm việc thiết kế 4 nhà máy nguyên tử tạo điện tại United Engineers and Constructors (nay thuộc Raytheon) cho hai tiểu bang New York và South Carolina. Từ 1975 tới 1983 ông Đoàn khảo cứu năng lượng tại một Vựa Tư Tưởng có tên là Institute for Energy Analysis tại Oak Ridge Associated Universities thuộc tiểu bang Tennessee. Từ 1983 cho tới nay, ông Đoàn là Tổng Giám Đốc công ty tư vấn kỹ thuật Professional Analysis, Inc.(PAI) có cơ sở làm việc về các vấn đề nguyên tử và môi trường tại nhiều trung tâm nguyên tử khắp nước Mỹ. Ông Đoàn đã từng làm việc với nhiều khoa học gia nổi tiếng, kể cả vài vị có giải thưởng Nobel và Fermi. Ông Đoàn cũng đã có nhiều giao kèo làm việc với US Department of Energy, US National Aeronautic and Space Administration, và US Nuclear Regulatory Commission, cùng là các công ty có dịch vụ nguyên tử như General Electric, Westinghouse, Babcock and Wilcox, Asea Atom, Bechtel, Lockheed Martin, Parsons, và Wackenhut.

Ông Đoàn đã từng là hội viên của các hội khoa học như American Nuclear Society, American Association for the Advancement of Science, New York Academy of Science, và là kỹ sư có bằng hành nghề tại các tiểu bang Pennsylvania, Florida và Tennessee.

Ông Đoàn tuy ở xa Việt Nam lâu năm nhưng luôn luôn hướng về Việt Nam trong các hoạt động từ thiện suốt 40 năm qua. Ông đã giúp đồng bào qua các tổ chức như Aide à l’Enfance du Vietnam, Save the Children, Social Assistance Program for Vietnam, East Meets West Foundation, Room to Read, American Helping Asian Children, Nom Preservation Foundation, Friends of Hue Foundation, Vietnamese Culture and Science Association, Institute of Vietnamese Culture and Education, Hội Khuyến Học Nam California, Hội Đọc Sách Giải Trí Giáo Dục (Saigon), Vietnamese American Scholarship Fund, và Fund for the Encouragement of Self-Reliance. Từ năm 1988 đến nay, chương trình Khuyến Học Việt Mỹ và Khuyến Khích Tự Lập của gia đình Ông đã giúp xây dựng được nhiều trường học, mổ xẻ cho nhiều trẻ em tàn tật, mổ bệnh mắt cho nhiều người già, và đặc biệt là giúp hơn 12,000 gia đình nghèo tại Thừa Thiên Huế tự lập bằng phương pháp Grameen mà người chủ chốt là ông Mohammed Yunus mới được giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2006. Chương trình của ông Đoàn tại Việt Nam cũng được Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng UN- HABITAT Civil Society Innovation năm 2008.

Ông bà Đoàn có hai con và ba cháu. Ông và gia đình chưa hề tham dự một tổ chức chính trị hoặc đảng phái nào.

__________

ĐIỆN NGUYÊN TỬ. GIÁO DỤC, VÀ CÔNG TÁC

PHÁT TRIỂN VIỆT NAM BỀN VỮNG THẾ KỶ 21

__________  

Phùng Liên Đoàn

Ngày 7 tháng 10, 2007

Vào đầu tháng 10, 2007, tôi hân hạnh được Vựa Tư Tưởng (Think Tank) Howard Baker mời tham dự một cuộc họp về phong trào bành trướng xây nhà máy điện nguyên tử. Người ta gọi phong trào này là sự “Tái Sinh” (Renaissance) của điện nguyên tử, bởi vì suốt 25 năm qua, các nước tân tiến Âu Mỹ đều không xây thêm nhà máy nguyên tử tạo điện, trong khi đó thì kinh tế toàn cầu đã phát triển ào ạt, thải ra nhiều khí carbonic gây hiện tượng “nhà kiếng” làm cho khí quyển của trái đất càng ngày càng nóng và đe dọa an sinh của nhân loại trong một hai thế kỷ tới.

Điện nguyên tử không xa lạ gì với tôi, bởi vì vào năm 1958 khi bắt đầu bước chân vào đại học, tôi đã quyết tâm học về ngành này. Trước đó mới 13 năm hai quả bom nguyên tử đã tàn phá Hiroshima và Nagasaki, khiến quân phiệt Nhật phải đầu hàng Mỹ; và trước đó mới chỉ năm năm, tổng thống Eisenhower của Mỹ đã tuyên bố đem năng lượng nguyên tử phục vụ hòa bình. Mỹ đã tổ chức hội nghị tại Genève năm 1955, 1958 và 1964 cho toàn thế giới biết về phương pháp dùng năng lượng nguyên tử phụng sự hòa bình, như trị liệu bệnh tật, sản xuất vật liệu tinh vi, chạy tàu ngầm và nhất là sản xuất điện. Tuy nhiên, việc xây các nhà máy điện nguyên tử một cách ào ạt vào những năm 1960s và 1970s đã gây nên một tác hại ghê gớm là các nhà máy này xây ẩu tả, không chạy tốt, quá tốn kém, không cạnh tranh được với giá dầu hỏa và khí đốt, khiến cho nhiều hãng xây cất bị lỗ vốn. Các tai nạn gây ô nhiễm phóng xạ và thiệt hại tài sản tại các nước tiền tiến như Anh (Windscale), Mỹ (Three Mile Island) và Nga (Chernobyl) đã làm quần chúng tại các nước này không tin tưởng vào những lời tuyên bố của chính phủ và các chuyên gia. Các nước khác như Trung Quốc, Israel, Ấn Độ và Hồi Quốc cũng lợi dụng các thông tin và vật liệu do các nước Anh, Mỹ, Canada tiếp tế mà làm được bom nguyên tử cho chính nước họ, gây cảm tưởng là bom nguyên tử và điện nguyên tử tuy hai nhưng là một. Đây là thời đại mà người ta gọi là Thời Đại Thứ Nhất hay Thời Đại Sơ Khai của điện nguyên tử.

Nhưng trí tuệ và nhất là lương tâm của con người đã giúp các nhà lãnh đạo của Nga và Mỹ đi tới nhiều thỏa ước là phải giảm bớt số lượng bom nguyên tử đi, nếu không chẳng bao lâu loài người sẽ tự diệt vong vì có lãnh đạo nào đó tính lầm thế cờ mà bấm nút cho hỏa tiễn phóng bom nguyên tử một cách không ý thức, rồi các nước khác trả đũa cũng bằng bom nguyên tử, làm trái đất bị bao phủ bởi bụi phóng xạ nhiều chục năm, và toàn thể sinh vật sẽ bị tiêu diệt vì không có ánh sáng mặt trời. Các nước Mỹ, Nga, Pháp, và Anh có trên 25 ngàn quả bom nguyên tử đặt sẵn trên hỏa tiễn hoặc trong kho, và như vậy triển vọng loài người tự hủy diệt rất cao. Nhờ trí tuệ và lương tâm, các nhà lãnh đạo thế giới đã đi tới thỏa ước “biến đao kiếm thành cầy bừa.” Họ thỏa thuận với nhau đem uranium và plutonium của bom làm nhiên liệu tạo điện, và nhờ vậy số lượng bom đã được từ từ giảm xuống; ngày nay chỉ còn vài ngàn trái bom tại mỗi nước. Người ta cũng đồng ý là cần phải tìm cách giảm bớt các khí thải có sức gây hiện tượng “nhà kiếng,” vì các chất khí thải này làm khí quyển của trái đất giữ nhiều chất nóng của ánh sáng mặt trời, có thể làm không khí nóng hơn 5-7 độ trong vòng 100 năm, gây tai biến to lớn về thời tiết (bão lụt, hạn hán…) và nạn lụt hồng thủy bởi sự tan rã của các băng sơn ở Bắc Cực và Nam Cực làm nước biển dâng cao. Phương pháp nhân loại phải thực hiện là giảm bớt việc dùng than đá, dầu hỏa và khí đốt, bởi vì khí thải carbonic là một thành phần quan trọng bậc nhất gây hiện tượng “nhà kiếng.” Người ta đã đồng ý được với nhau về Qui Ước Kyoto và Rio de Janeiro, yêu cầu các nước kỹ nghệ lớn giảm thiểu việc dùng nhiên liệu cùng là tăng việc sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng trái đất, và năng lượng nguyên tử. Các nước kỹ nghệ lớn như Mỹ và Trung Quốc đều không muốn tuân thủ yêu cầu của các qui ước trên, bởi các nguồn năng lượng đó đều đắt hơn nhiên liệu, và họ sợ rằng kinh tế của họ sẽ bị suy thoái. Tuy nhiên, đến năm 2006, thì Tối Cao Pháp Viện của Mỹ đã khuyến cáo để chính phủ Mỹ cũng phải tuân theo gương dẫn đầu bởi Liên Quốc Âu Châu và Nhật, trong khi các nước dẫn đầu phong trào bảo vệ khí quyển đang cố gắng tạo lập “thuế carbonic” đánh vào hàng hóa xuất cảng của các nước còn ích kỷ như Trung Quốc và Ấn Độ áp lực họ phải dùng bớt nhiên liệu đi. Hiện Trung Quốc thải 6.2 tỉ tấn CO2 ra khí quyển mỗi năm, ngang hàng với Mỹ, và hai nước này thải 40%-50% toàn thể CO2 trên thế giới.)

Hội nghị điện nguyên tử vào đầu tháng 10 năm 2007 tại Washington do Vựa Tư Tưởng Baker tổ chức chỉ mời khoảng 50 người. Đó là những người có ảnh hưởng lớn hoặc hiểu biết nhiều về năng lượng nguyên tử. Số người tham dự gồm 8 nghị sĩ làm luật của Mỹ; chủ tịch các đại công ty xây cất nhà máy nguyên tử của Mỹ, Pháp và Nhật; bộ trưởng bộ Năng Lượng và chủ tịch Cơ Quan Qui Luật Nguyên Tử; chủ tịch các hãng làm điện đang cần xây cất thêm nhà máy điện nguyên tử; và đặc biệt có cả các vị thủ lãnh nguyên tử của Pháp và Nhật. Sở dĩ tôi đựoc mời là vì tôi có quen với thượng nghị sĩ Howard Baker từ nhiều năm (nay đã về hưu sau khi làm đại sứ Mỹ tại Nhật), quen biết với các người làm việc tại Vựa Tư Tưởng Baker, và cũng vì tôi đã từng tham dự nhiều cuộc khảo cứu về điện nguyên tử và hiện tượng “nhà kiếng” từ những năm 1970s và 1980s. Đặc biệt tôi và một vài đồng nghiệp có viết một quyển sách với nhan đề là “Thời Đại Thứ Hai của Năng Lượng Nguyên Tử” xuất bản năm 1985, mà người viết chính là Alvin Weinberg, một khoa học gia được coi như là thủ lãnh trí tuệ bậc nhất của ngành nguyên tử áp dụng vào đời sống. [1]

Các cuộc thảo luận của hơn 50 người tham dự hội nghị xoay quanh các đề tài như:

(1) trong vòng 25 năm nữa sẽ có bao nhiêu nhà máy điện nguyên tử được xây cất, và chúng sẽ giảm ô nhiễm môi trường và hiện tượng “nhà kiếng” là bao nhiêu;

(2) làm cách nào để có thể xây cất nhà máy điện nguyên tử cho các quốc gia đang phát triển mà không mắc vào hai vấn nạn lớn, đó là không cho phép họ làm bom nguyên tử và giúp họ điều hành được chất thải phóng xạ một cách an toàn;

(3) giá thành của điện nguyên tử sẽ là bao nhiêu, và làm cách nào các công ty có đủ tiền để xây một nhà máy đáng giá 5 tỉ USD mà chỉ 10 năm sau ngày quyết định mới có thể sản xuất được kilowatt điện đầu tiên; và

(4) làm sao tăng trưởng được đội ngũ chuyên gia để tiếp tục sản xuất điện nguyên tử một cách xuất sắc như ngày nay, với các nhà máy chạy suốt đêm ngày, sản xuất 16% tổng số điện trên thế giới nghĩa là nhiều điện hơn bất cứ quốc gia nào khác trừ Mỹ.

Ông Shunsuke Kondo, chủ tịch Nguyên Tử Lực Nhật, người trẻ hơn tôi 2 tuổi, có nhắc tới Việt Nam một lần, trong nội dung “một vài nước đang phát triển như Việt Nam cũng đang muốn xây nhà máy điện nguyên tử.” Trong phát biểu này có hàm ý là các nước nhỏ và nghèo thì phải “coi chừng.” Coi chừng, bởi vì các nước đang phát triển này chưa khai thác hết những nguồn nhiên liệu bản xứ vừa rẻ tiền vừa hợp với đà kinh tế còn rất nhỏ chưa có ảnh hưởng gì tới việc gây ô nhiễm ào ạt của các nước lớn. Coi chừng, bởi vì nhà máy điện nguyên tử rất đắt tiền (5 tỉ USD hay 5000 USD/KW), làm sao một nước nhỏ và nghèo có thể đủ tiền để xây nếu không làm nhiều dự án khác bị trùn lại. Coi chừng, bởi vì các nước nhỏ và nghèo này không có một hạ tầng cơ sở tốt để phục vụ các việc xây cất tại địa phương, do đó từ con ốc đặc thù đến linh kiện kiểm soát chất phóng xạ, cái gì cũng phải nhập cảng. Và nếu sau này nếu có gì trục trặc thì sẽ phải “đóng cửa” chờ đợi vật liệu hoặc linh kiện đem từ ngoài vào, một việc có thể làm tê liệt mọi hoạt động vốn đã rất mong manh của quốc gia. Coi chừng, bởi vì các nước nhỏ và nghèo không có một đội ngũ làm việc thật qui củ và tốt, có thể gây tai nạn bất ngờ mặc dầu họ có thể là những người rất tài giỏi về toán và vật lý, nhưng việc điều hành một nhà máy nguyên từ không những cần tài giỏi mà còn cần có kinh nghiệm và nguyên tắc làm việc hết sức nghiêm túc.

Từ vấn đề “coi chừng” trên, tôi nghĩ đến vấn đề giáo dục, một phong trào đang được bàn cãi rất sôi nổi trong nhiều tầng lớp người Việt Nam, trong nước cũng như ngoài nước. Một mặt, bộ trưởng Giáo Dục Nguyễn Thiện Nhân là một lãnh đạo trẻ, có hiểu biết thực tế về nền giáo dục của các nước tiền tiến cũng như của các nước láng giềng, để biết rằng giáo dục của ta cần phải được sửa đổi mạnh bạo thì mới mong đáp ứng được nhu cầu phát triển. Một mặt khác, ngân sách giáo dục của ta rất thấp so với các nước láng giềng và các nước tiền tiến. Chưa ai cho tôi biết ngân sách giáo dục của nước ta là bao nhiêu, nhưng có người nói: “Tính phần trăm thì ngân sách giáo dục của ta cao hơn cả Trung Quốc!” Nhưng tính phần trăm sao được, khi ta bắt học sinh từ mẫu giáo lên đến đại học đều phải đóng học phí, và học phí đó chỉ vài đô la mỗi tháng nhưng nhiều người dân vẫn không đủ sức và vì thế, nạn “không đi học” của ta là rất cao. Phần trăm sao được khi đội ngũ giảng huấn của ta còn quá thiên ngoại, học trình của ta còn quá lý thuyết khiến người học ra trường không tìm được việc làm thực tế. Ta thường có khuynh hướng duy ý chí, chủ quan cho rằng người Việt Nam vốn rất tài giỏi và thông minh, vì vậy ta nhất định phải có một đại học trong số 200 đại học giỏi nhất thế giới và trong vòng 20 năm nữa ta nhất định phải đào tạo được 20,000 tiến sĩ. Môt số trí thức lại có đề nghị Việt Nam thành lập một trường đại học chuyên nghiệp dùng tiếng Anh làm chuyển ngữ, để ta dễ hội nhập với đà tiến triển quốc tế và dễ đào tạo cán bộ có tầm hiểu biết cao để làm việc với doanh thương sử dụng kỹ thuật cao.

Theo tôi, các ý kiến trên và nhiều ý kiến khác nữa cần phải được bàn luận thật nghiêm chỉnh và nhanh chóng vì thời gian không chờ đợi ta. Ta phải nghĩ đến việc phát triển đất nước một cách bền vững suốt thế kỷ 21 trong khả năng của ta, chứ không thể chỉ phản ứng theo nhu cầu ngắn hạn hoặc duy ý chí. Kiến quốc là một vấn đề mà người Việt Nam anh hùng nhưng nhiều tang tóc của chúng ta có rất ít kinh nghiệm, bởi vì ta có chiến tranh suốt chiều dài của lịch sử, và khi đất nước được an bình đôi chút giữa hai chiến tranh, thì các vị vua quan của ta lại quá thủ cựu, không học kinh nghiệm của những nước tiên tiến và không dùng trí tuệ Việt Nam để khai triển những việc thực tế quanh ta giúp cho người dân được càng ngày càng có ăn học nhiều hơn, có công việc lương cao hơn, có tự do phát triển cá nhân, và như vậy là được sung sướng hạnh phúc hơn.

Một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh phải là một quốc gia trong đó hầu hết người dân được ăn học tốt, có công việc làm tốt, có tự do mưu sinh, được luật pháp bảo vệ tốt, và sống tốt với người đồng loại. Ta không thể giầu mạnh và người dân không thể hạnh phúc nếu ta chỉ có một số lãnh đạo duy ý chí, một số quan chức thừa hành với bằng cấp “tiến sĩ”dựa trên sự phát triển của người nước ngoài rất xa với thực tế Việt Nam, và số đông 80 triệu người với dân trí ngang tầm tiểu học. Vì thế, khi ta nói “giáo dục” là quan trọng cho tương lai, thì ta phải định nghĩa rõ ràng hơn, là giáo dục những gì, giáo dục thế nào, giáo dục bao lâu, và giáo dục cho bao nhiêu người dân. Quản Di Ngô sống trước cả đức Khổng Tử thời Đông Châu Liệt Quốc đã nói rất đúng, cho rằng kế hoạch làm nước giàu mạnh là phải “trồng người,” và việc trồng người phải là “kế hoạch trăm năm.” Vì thế, tôi đề nghị ta phải nghĩ tới việc dùng ngân sách của quốc gia và đi vay thêm tiền để triệt để đào tạo công dân từ mẫu giáo trở lên, với trường sở tốt, giáo viên tốt, học trình khuyến khích suy nghĩ và làm việc thực tế. Nếu học sinh của ta được đào tạo tốt, được khuyến khích năng động và tự lập từ thuở lọt lòng cho đến 20 tuổi, thì sau 5 thế hệ tức là 100 năm, nước Việt Nam sẽ có hơn 90% người dân có giáo dục vững vàng để thành các thành phần chỗ nào cũng tốt trong xã hội. Giáo dục căn bản vững vàng này cần hai đại bộ phận quan trọng áp dụng sát sao vào đời sống hàng ngày của xã hội ta chứ không phải là học vẹt. Đó là: văn hóa (gồm tất cả những ngành học làm trí tuệ được mở mang, hiểu biết được quảng bác) và kinh tế (gồm tất cả những ngành học làm đời sống vật chất được sung túc, nhanh nhẹn, hiệu suất cao.)

Có người nói, như vậy là ta không đáp ứng được với nhu cầu kinh tế hiện nay. Thưa rằng, nhu cầu này có thể tự thị trường giải quyết, bởi vì các doanh nghiệp Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước có thể cộng tác với những người có nhiều kinh nghiệm thực tế và có tiền, mở các lớp huấn nghệ đào tạo công nhân một cách đặc biệt và nhanh chóng đáp ứng nhu cầu kinh tế ngắn hạn của doanh thương và lợi nhuận trước mắt. Chính phủ chỉ cần làm chính sách thông thoáng và tổ chức kiểm soát phẩm chất đồng nhất, nhậy bén, công bằng, không tri trệ, hối lạm. Ngay chi phí kiểm soát như vậy cũng có thể giải quyềt bằng phương pháp kinh tế thị trường.

Trung Tâm Việt Nam Phát Triển Bền Vững Thế Kỷ 21 phải dùng mọi phương pháp khoa học để thúc đẩy việc trồng người; hoạch định chính sách bền vững; dùng mọi bài học trên thế giới một cách rất Việt Nam để phát triển người Việt Nam và đất nước Việt Nam theo tài nguyên, môi trường và mục đích đặc thù Việt Nam. Các hoài bão to lớn như “điện nguyên tử,” “đại học nổi tiếng nhất thế giới,” “20 ngàn tiến sĩ,” “ khảo cứu khoa học cao siêu…” là những vấn đề cần phải được bàn thảo nghiêm túc, nhũn nhặn (ta phải biết ta là ai) với tâm niệm là “làm cách nào, với khả năng ít ỏi của ta, để nước Việt Nam nhanh chóng được dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, văn minh.” Viễn tượng có thể là vào năm 2100, 100% trẻ em và người già được chăm sóc tốt, 90% người dân đạt được mức lợi tức hàng năm trên 10,000 USD/người (tính theo giá USD năm 2007) và 70% người dân được học hết lớp 12 trung học. Đây là kết quả đã có tại hầu hết các nước văn minh ngày nay. Và viễn tượng này phải có lộ trình đi từng bước khả thi, như kế hoạch ngũ niên có kiểm chứng bởi những thành phần trí tuệ độc lập để tránh nạn “mèo khen mèo dài đuôi.” Lộ trình ta hoạch định chắc chắn sẽ có nhiều nan giải, chắc chắn sẽ có nhiều sai lầm, nhưng ta có thể dùng kinh nghiệm, trí tuệ và tâm niệm kiến quốc để sửa sai hàng năm. Như vậy người dân và các lãnh đạo tương lai sẽ luôn có chuẩn đich, giống như thuyền trưởng và khách đồng hành đều nhìn thấy được hải đăng để chung sức chèo lái đi tới bến bờ là Giấc Mơ Việt Nam.

Ta không thể nói hoài mà không làm. Ta không thể tranh cãi mãi về quá khứ mà không nghĩ tới tương lai thực tế và khả thi cho con cháu của chúng ta. Ta không thể chờ cho những người Việt sáng suốt như Nguyễn Trường Tộ chết đi rồi mới vinh danh nhưng vẫn không thực hiện ý kiến của họ. Ta cần bắt đầu làm việc với các phương tiện và hiểu biết mới, một sự kiện mà tổ tiên ta đã không có được bởi vì các cụ không may mắn có những kiến thức, phương tiện và cơ hội như chúng ta ngày nay.

[1] Weinberg, Spiewak, Barkenbus, Livingston and Phung, The Second Nuclear Era: A New Start for Nuclear Power. Praeger Publishers, 1985 

Phùng Liên Đoàn

__________

nguồn:  http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/dien-nguyen-tu-giao-duc-va-cong-tac-phat-trien-viet-nam-ben-vung-the-ky-21

Read Full Post »

TS PHÙNG LIÊN ĐOÀN TRẢ LỜI

CÁC PHẢN HỒI CỦA ĐỘC GIẢ TRANG BA SÀM

trong bài “1022. Tám lý do Việt Nam sẽ có lợi nếu chính phủ hoãn xây nhà máy điện hạt nhân

__________

 

TS Phùng Liên Đoàn – Ành VOA

Trong số 103 phản hồi, có nhiều loại:

  • Các lời khen, kể cả làm thơ khen. Tôi xin trân trọng cảm ơn và không “phản hồi” thêm nữa.
  • Vài lời chê. Tôi có trả lời, phần lớn là hiểu theo các khía cạnh khác nhau. Có bạn chỉ ra hai lỗi chính tả, 2020 thay vì 1920 và 2030 thay vì 1930.
  • Các ý kiến về nhà nước Việt Nam. Việc này tôi miễn bàn thêm vì cũng đã nói trong bài viết rồi.
  • Các ý kiến về năng lượng gió, địa nhiệt, và “sai lệch toán học”. Tôi trân trọng, nêu ra vài bất cập, nhưng xin để các vị chuyên môn bàn thêm.
  • Các ý kiến về giúp cho người dân Việt Nam qua trồng cây và nuôi tôm đặc thù. Tôi ủng hộ các bạn này và mong các bạn cộng tác với nhau thực hiện nhiều hơn, tốt hơn. Tôi cũng giới thiệu vài cơ quan liên hệ có thể đóng góp với quý bạn.
  • Các ý kiến về ĐHN. Tôi đã trả lời cặn kẽ hơn.

Dưới đây là các trả lời của tôi trong vài trường hợp đặc biệt.

 

Trần Văn Tuần đã nói  24/05/2012 lúc 08:32

Nhân đọc bài “Tám lý do Việt Nam sẽ có lợi nếu chính phủ hoãn xây nhà máy điện hạt nhân”, của tác giả Phùng Liên Đoàn, Chuyên viên an toàn, môi trường và kinh tế Điện hạt nhân đã làm việc tại Mỹ 40 năm.

“…”

Trả lời bạn Trần Văn Tuần về “Sai lệch toán học”

Khi bàn lợi hại về ĐHN và kiếm công ăn việc làm cho người Việt cũng như tương lai sáng sủa hơn cho nước Việt Nam, tôi không dám lạm bàn tới “sai lệch toán học.” Việc này bạn đã có những trí tuệ toán học như GS Hoàng Tụy, GS Ngô Bảo Châu, và nhiều nhà toán học siêu việt trên thế giới phản biện. Kính, PLĐ.

 

letrung đã nói 24/05/2012 lúc 06:54

Tôi xin đưa lên đây một bài viết cũ nhưng vẫn còn tính thời sự.

PHONG ĐIỆN.

Ưu điểm dễ thấy nhất của phong điện là không tiêu tốn nhiên liệu, không gây ô nhiễm môi trường như các nhà máy nhiệt điện, dễ chọn địa điểm và tiết kiệm đất xây dựng, khác hẳn với các nhà máy thủy điện chỉ có thể xây dựng gần dòng nước mạnh với những điều kiện đặc biệt và cần diện tích rất lớn cho hồ chứa nước.Các trạm phong điện có thể đặt gần nơi tiêu thụ điện, như vậy sẽ tránh được chi phí cho việc xây dựng đường dây tải điện.

“…”

Trả lời bạn Lê Trung

Tôi rất trân trọng sự cổ võ của bạn về điện gió. Tôi hi vọng bạn là người đang làm điện gió thay vì chỉ là đọc và khảo sát. Tôi đang giúp một sinh viên Việt Nam lắp ráp một hệ thống điện gió nhỏ để các nhà nghèo tại thôn quê và các làng mạc tại vùng núi vùng đảo có thể tự chế nguồn điện của mình. Tôi mong bạn sẽ tiếp tay với sinh viên này.

Tuy nhiên, như mọi vấn đề trong đời sống, có bắt tay vào thực tế mới thấy công việc khó hơn toan tính trên sách vở. Tôi xin nêu ba sự thật hiển nhiên nhưng it người để ý: (a) gió cũng là năng lượng mặt trời, như nước, than, dầu… vì nếu không có mặt trời thì không hề có các dạng năng lượng đó. Khác nhau là ở các dạng và vị trí của chúng và cách ta khai thác; (b) năng lượng mặt trời cũng là năng lượng hạt nhân. Khác nhau ở chỗ phóng xạ nhiều hay ít, có lợi cho sự sống hay hủy diệt sự sống. Cái gì thái quá thì cũng nguy hiểm; (c) nếu năng lượng gió sự thật dễ làm, có khắp mọi nơi, và rẻ tiền, thì kinh tế thị trường đã làm từ lâu rồi. Cả ngàn năm người ta đã dùng gió để giương buồm xuyên đại dương và xay lúa (ví dụ các chiến tranh từ thời thượng cổ ở miền Địa Trung Hải và các cánh gió xay lúa tại Hà Lan). Nó không tràn lan khắp thế giới ngày nay vì có lý do. Bạn nên tìm hiểu kỹ các lý do ngay cả tại nhưng nơi cổ võ gió nhiều nhất như Đan Mạch, Đức…Tôi đã đi xem vài “trại” năng lượng gió tại Texas và California và thấy chúng cũng có những bất cập khi so sánh với các dạng năng lượng khác.  Trân trọng, PLĐ.

 

Trần Văn Tuần đã nói 24/05/2012 lúc 22:15

Bạn Letrung ạ,đọc bài viết phân tích về phong điện của bạn rất hay và bổ ích,tôi nhớ cách đây hàng chục năm, tôi có dịp tham dự buổi nói chuyện của Giáo Sư Chu Phạm Ngọc Sơn,lúc đó còn đang là đại biểu quốc hội,trình bày về kế hoạch xây dựng thủy điện Sơn la vừa được quốc hội thông qua,rất tốn kém và lại rất nguy hiểm,một khi có sự cố xảy ra.Tôi có thử đề xuất trong buổi nói chuyện của GS CPNS, về phương pháp dùng “phong điện” như giải pháp mà bạn vừa nêu ra,mặc dù tôi không có đủ cơ sở phân tích cụ thể như bạn,nhưng cũng không được sự quan tâm về đề xuất đó.

“…”

Trả lời bạn Trần Văn Tuần

“Địa nhiệt” đã được khai thác tại nhiều nơi. Bạn vào Internet tìm chữ “geothermal energy” thì thấy hết. Có nhiều nhà máy lớn tới vài trăm MW, nhưng chúng cũng có nhiều khó khăn về vật liệu xây cất cũng như các chất muối thải ra môi trường sống. Bạn cũng nên nhớ “địa nhiệt” cũng là do sức ép của trọng lực trái đất và các chất phóng xạ trong đất đá mà có. Trân trọng, PLĐ.

 

văn lâm đã nói 24/05/2012 lúc 06:50

Bài viết của ông Đoàn có nhiều điểm đáng chú ý,tuy nhiên ở đoạn cuối ông này khuyên Việt nam nên làm điện hạt nhân nổi thì tôi thấy lời khuyên này phủ nhận những gì ông Đoàn đã nêu trong bài và hơn nữa còn hơi hướng vận động cổ xúy cho những nhà tư bản đang mời chào điện hạt nhân nổi.

Nếu nói về chuyện an ninh,an toàn thì điện hạt nhân nổi đâu có hơn điện hạt nhân trên bờ,bằng chứng đã có bao vụ tai nạn của các tầu ngầm nguyên tử xảy ra trên thế giới rồi đó.

Ai cũng biết trong giai đoạn mà cung cầu điện còn bấp bênh ,chưa đạt ngưỡng tương đối cân bằng thì đất nước nào muốn phát triển kinh tế nhanh cũng cần tới điện hạt nhân.Hiện Nhật ,Đức và một số nước phát triển khác đang có kế hoạch từ bỏ điện hạt nhân không phaỈ VÌ HỌ SỢ ĐIỆN HẠT NHÂN MÀ CHÍNH VÌ HỌ ĐÃ ĐẠT NGƯỠNG TƯƠNG ĐỐI CÂN BẰNG CUNG CẦU NĂNG LƯỢNG. Còn ở Việt nam ai cũng biết chúng ta đang trong giai đoạn tích tụ các nguồn lực,giai đoạn tăng tốc kinh tế với tốc độ phát triển cao,cung cầu năng lượng còn mất cân đối nên cũng giống như Nhật,Đức hay Mỹ trước đây,chúng ta buộc phải nghĩ đến điện hạt nhân bên cạnh những phương thức,biện pháp cân đối năng lượng khác.Khi đạt được sự cân đối năng lượng cần thiết,chúng ta cũng sẽ làm như họ là đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân.

Trả lời bạn Văn Lâm

“Sustainability” hay sự bền vững đạt được tương đối cân bằng về cung cầu năng lượng là một lý tưởng quốc gia nào cũng mong muốn, nhưng chưa có quốc gia nào đạt được như bạn tuyên bố. Khi mà dân số còn tăng, kinh tế còn tăng, và các nguồn năng lượng không chia đồng đều trên trái đất, thì việc đạt được sự cân bằng để bỏ ĐHN như bạn tưởng Nhật và Đức đang làm là không có thực. Lý do họ tạm ngưng nhiều nhà máy ĐHN sản xuất 20%-30% điện là vì lý do chính trị để yên lòng người dân, nhưng giá điện của họ sẽ tăng chóng mặt và chẳng bao lâu kinh tế và người dân sẽ phản đối ầm ĩ. Đó là một ưu điểm cũng là nhược điểm của xã hội công dân.

Còn như bạn cho tôi là “cá mè một lứa” cổ xúy ĐHN thì bạn nên đọc kỹ những chữ “nếu” tôi đưa ra trong lý do thứ 8. Tôi viết:“Sau khi lắng nghe các ý kiến công khai về ĐHN, nếu ViệtNam vẫn còn muốn có kỹ nghệ ĐHN cho 30-100 năm tới, thì ta nên tìm phương pháp đặc thù có lợi cho kinh tế Việt Nam.” 

Như vậy là tôi rất trân trọng ý dân của người Việt Nam và vì tôi là người có đôi chút hiểu biết về ĐHN, tôi đưa ý kiến là “nếu” ta còn muốn hội nhập ĐHN thì ta làm một việc có lợi cho nước Việt Nam, có lợi cho người dân Việt Nam. Như bạn biết, tôi không lo về sự nguy hiểm của ĐHN bởi vì Fukushima sẽ không lặp lại nữa (theo toán học, xác suất 1 phần triệu lập lại hai lần thì thành 1 phần triệu triệu; và theo lý thuyết “học hỏi sửa sai” thì sự lặp lại còn có xác suất nhỏ hơn.) Tôi vẫn cho rằng cái nguy hiểm nhất cho ĐHN tại Việt Nam là ta đầu tư mà không có hoặc có rất ít điện, làm dân ta phải trả nợ mà không được lợi.

Còn như bạn nói ĐHN nổi đã có rất nhiều tai nạn thì bạn nên nêu bằng chứng. Chưa một tầu nổi nguyên tử nào của Mỹ hoặc Nga bị sự cố nóng chẩy lò nguyên tử; các sự cố rò rỉ phóng xạ thì cũng giống như các sự cố của các lò trên cạn—phần lớn do con người gây ra. Các tai nạn tầu ngầm như Thresher và Seawolf của Mỹ và Mike-class của Nga là do tai nạn tầu lặn bị sự cố lửa cháy hoặc áp suất nước chứ không phải sự cố nguyên tử làm lõi lò nóng chảy.

Một nhà máy ĐHN xây trên bè sẽ không dễ bị động đất làm bể, hoặc bị sóng thần làm mất hết nước để không làm lạnh được các thanh nhiên liệu. Sự cố do con người gây ra vẫn là nhiều rủi ro nhất. Các thiết kế lò ĐHN nhỏ ngày nay đều dựa trên nguyên lý “tự nhiên”,  nếu có sự cố thì “bỏ đi uống cà phê” mà lò vẫn tự động nằm ngủ chứ không nóng chẩy.

Tôi không cổ xúy ĐHN. Tôi chỉ cổ xúy một điều duy nhất, đó là công ăn việc làm và hạnh phúc của con cháu Lạc Hồng. Chính vì thế tôi đã làm việc với hơn 40 hội từ thiện Việt Nam, đã tạo lập Quỹ Khuyến Học Việt Mỹ (Vietnamesee American Scholarship Fund-VASF), Trung Tâm Khuyến Khích Tự Lập (Center for the Encouragement of Self-Reliance—CESR), và Viện Nghiên Cứu Việt Nam Tương Lai (Institute for Vietnam Future-IVNF). Tôi đã nguyện đem hết tài sản của riêng mình đóng góp vào những mục đích này. VASF đã phát nhiều học bổng, xây nhiều trường học và giúp mổ xẻ khuyết tật cho học sinh từ năm 1988. CESR đã giúp người nghèo vay vốn nhẹ lãi và không thế chấp từ năm 1997. Viện Nghiên Cứu Việt Nam Tương Lai, bắt đầu năm 2011, tìm các giải pháp để đa số người dân Việt Nam 100 năm nữa có được 7 yếu tố an ninh con người. Đó là an ninh thực phẩm, an ninh sức khỏe, an ninh công ăn việc làm, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng, an ninh môi trường và an ninh cơ chế.

Trân trọng, PLĐ

 

Nguyễn Hữu Quý đã nói 23/05/2012 lúc 19:06

Khen về nội dung bài viết thì đã có nhiều người khen, về phần mình, tôi thấy rằng: Bài viết không chỉ của một con người có tấm lòng, mà còn rất thông hiểu về ĐHN, và với nhiều giải pháp đưa ra rất thiết thực.

“…”

Trả lời Nguyễn Hữu Quý về ĐHN nổi

Xin cảm ơn bạn các suy nghĩ đồng tình. Mong bạn xem trả lời của tôi về ĐHN nổi trong tả lời cho bạn Văn Lâm. Trân trọng. PLĐ

 

KTS Trần Thanh Vân đã nói 23/05/2012 lúc 14:34

Tôi đề nghị Anh Ba Sàm “treo” chuyên đề này dài dài lên cổng chính của trang mạng TTXVH để mỗi sáng, ai vào cũng đọc được một thông tin gì mới, ngõ hầu làm phấn chấn lòng những “Người Việt Nam Yêu Nước Thương Dân”. Tôi hy vọng sẽ đến lúc các “Các đ/c lãnh đạo kính yêu của chúng ta” sẽ đọc và sẽ quan tâm đến trí tuệ và nhiệt tâm của người Việt ở hải ngoại và ở trong nước đang cố gắng mọi mặt đóng góp lời hay ý đẹp của họ cho hạnh phúc và sự yên bình của người dân Việt.

Tôi rất thích đọc cái lợi thứ 7 về năng lượng bí mật đang được dấu kín trong lòng đất của TS Phùng Liên Đoàn và tôi cũng rât thích thú với câu chuyện rất hồn nhiên của một nhóm người tình cờ gặp nhau trên Comments nói về phát triển các “cây” “con” nhằm xoá đói giảm nghèo và mang lại những niềm vui bình dị nho nhỏ cho người dân.

Xin cảm ơn chị Vân. Mong chị cho ý kiến “phong thủy” của việc đào sâu hơn 300 m rồi đào ngang khắp mọi nơi dưới đáy của sông của núi như vậy. Thật Thổ Hành Tôn trong chuyện Phong Thần cũng không đi sâu dưới đất được như vậy! PLĐ

 

Khách đã nói  23/05/2012 lúc 13:47

Tác giả thiếu sót khi so sánh tỉ số E/GDP (kWh/USD) của Anh và VN hiện nay mà không so sánh lúc Anh còn nghèo (USD/capita bằng VN hiện nay là 3300) thì tỉ số E/GDP (kWh/USD) của Anh là bao nhiêu bởi vì khi càng giàu thì hiệu suất sử dụng điện càng tốt hơn. VN hiện nay nghèo nên hệ số sử dụng điện kém hơn nên so sánh với nước giàu như Anh hiện nay là khập khiễng .

Trả lời Khách

Thưa anh:

Tôi không có ý “so sánh” Việt Nam với nước Anh. Tôi chỉ nêu ra vài con số chứng tỏ rằng với GDP bằng 13% của nước Anh mà trong 8 năm nữa ta tiêu thụ một số điện băng nước Anh ngày nay, thì là một chuyện hoang đường. Tỉ số GDP giữa hai thời điểm là 7.69 hay 29%/năm, nếu ta “đạt” được.  Dĩ nhiên vào năm 2020 ta không thể nào có GDP như vậy. Tỉ số dùng điện giữa hai thời điểm là 3.03. Con số này cũng dẫn tới độ tăng trưởng của GDP giữa hai thời điểm (2020 và 2012) là 15%, 9% và 7.1 %/năm, khi hệ số đàn hồi E/GDP là 1, 1.6 và 2. Việc này ta cũng không thể làm được với các dữ kiện kinh tế ngày nay và trong vài năm nữa.

Tóm lại, tôi không có ý so sánh ta với nước Anh. Tôi chỉ có ý là việc phỏng tính số điện cần thiết cho năm 2020 là khó có thể xẩy ra.

Trân trọng, PLĐ


Phản đối điện hạt nhân đã nói 23/05/2012 lúc 12:22

Tác giả có sai sót về lỗi đánh máy ở đây: “phỏng tính rằng tới năm 1920 thì Việt Nam cần 330 tỉ kWh và 1930 thì cần 693 tỉ KWh.” trong đoạn “Lý do 2″.

Trả lời Phản Đối ĐHN

Tôi xin nhận lỗi đánh máy mà không dò xét kỹ. Thời biểu phải là 2020 và 2030.

Xin cảm ơn, PLĐ

 

ĐHN đã nói 23/05/2012 lúc 10:11

Như vậy là tác giả không lo về an tòan hạt nhân (Lý do 1) như hầu hết các bác khác trên diễn đàn này mà chỉ cho là ĐHN chưa thích hợp cho VN hiện nay.

Trả lời ĐHN

Chính thế, các nhà máy ĐHN đời thứ ba an toàn hơn Fukushima. Tuy động đất và sóng thần giống như Fukushima thì cũng làm cho các nhà máy đời thứ ba bị thiệt hại nặng nề nhưng không bị nóng chảy vì ba lý do: (a) Toàn thể các lò ĐHN trên thế giới đang được tu bổ để không còn nạn mất điện và mất nước cùng một lúc như Fukushima; (b) Các hồ chứa thanh nhiên liệu đã dùng rồi không nằm trên cao để nước dễ mất đi nhưng khó tràn vào một cách tự động; và (c) Không chứa quá nhiều thanh nhiên liệu trong một hồ như Fukushima nữa. Nếu có một tai nạn nóng chẩy trong tương lai thì do một nguyên nhân khác chứ không giống như Fukushima. Ví dụ bình thép bị bể; bom nguyên tử nổ gần nhà máy; thiên thạch lớn rơi trúng nhà máy, trái đất lộn ngược…

Nhưng các sự cố kỹ nghệ do lỗi của con người sẽ vẫn xẩy ra, và xẩy ra nhiều hơn tại Việt Nam khi ta chưa có tinh thần an toàn tuyệt đối rất nghiêm túc. Tôi lo ta không sản xuất được điện, như Dung Quất có hiệu suất kém và chất lượng kém. Việc này sẽ làm ta lỗ vốn, thiếu điện, và con cháu ta vẫn phải trả nợ dài dài. Ta lấy gì trả nợ nếu không là “nhục nhã đi lao động chân tay và thể xác cho thế giới?”

Trân trọng, PLĐ

 

ngoi dai đã nói 23/05/2012 lúc 10:06

Đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta mang hình chữ S, chỉ có chiều dài chứ không có bề rộng. Lỡ ngộ, nhà máy điện hạt nhận bị nổ như ở Nhật hay Liên Xô (cũ), phạm vi bị phóng xạ bao trùm hàng trăm m2, sẽ vĩnh viễn cắt đất nước ra nhiều khúc. Vâng, lúc đó người dân Bắc -Nam mãi mãi xa cách nhau. Nghĩ thấy khủng khiếp quá!

Trả lời Ngoi Dai

Sự lo sợ của bạn về đất nước bị chia cắt bởi phóng xạ là khá giả tưởng, khi nhà máy ĐHN nổ như ở Nhật và Nga. Ngay cả Fukushima cũng chưa chia cắt nước Nhật. Các sự cố trong tương lai sẽ khác với sự cố Fukushima và Chernobyl. Nhà máy ĐHN sẽ có nhiều sự cố làm lò không sản xuất điện, nhưng sự cố chia cắt Bắc Nam nhỏ hơn cả ngàn lần so với sự cố đất nước bị chia cắt năm 1954 và có thể trong tương lai nếu lãnh đạo ta không khôn khéo như lãnh đạo các nước Thái Lan, Thụy Sĩ, Na Uy, Đan Mạch… Các lãnh đạo những nước đó biết người biết ta và luôn luôn nhún nhường để bảo vệ đời sống yên lành cho người dân.

Trân trọng, PLĐ

 

Trần Quốc Anh đã nói 23/05/2012 lúc 07:45

Tôi là một kỹ sư đang làm việc cho EVN, chuyên môn của tôi là về kỹ thuật điện nên thực lòng, về điện hạt nhân tôi hoàn toàn không có trình độ để bàn đến. Tuy nhiên trong những lý do mà bác Đoàn nêu ra, những lý do 2,3,4,5,6 là hoàn toàn đúng với thực tế hiện nay của EVN :

Hầu như tất cả các công trình do EVN làm chủ đầu tư, từ các trạm biến áp truyền tải cho đến nhà máy điện, công trình nào cũng bị kéo dài thời gian, chất lượng xây dựng có vấn đề, chi phí xây dựng gia tăng.

EVN sử dụng công nghệ từ rất nhiều nước, ví dụ rơ le bảo vệ hệ thống điện và hệ thống điều khiển tự động sử dụng công nghệ từ Mỹ (SEL, GE), Pháp (Micom), Đức (Siemens), Thụy Điển (ABB), Nhật (Toshiba), Trung Quốc (NARI). Hâu quả là cho đến nay thực tế xảy ra hoàn toàn đúng với điều bác Đoàn nêu ra trong lý do 4.

Rất mong các nhà lãnh đạo Việt nam hãy ráng lắng nghe các chuyên gia kỹ thuật, đừng dùng ý chí chính trị để quyết định mọi việc của đất nước mà hậu quả sẽ gây thiệt hại khôn lường.

Trả lời bạnTrần Quốc Anh

Xin cảm ơn bạn đã cho biết kinh nghiệm thực tế vì đâu ta phát triển khập khiễng, làm điện với hiệu suất thấp, với giá thành cao, và dùng điện không tinh khôn, khiến tỉ lệ đàn hồi của E/GDP quá cao, lãng phí điện hơn các nước láng giềng nói chi tới các nước tiên tiến. Giáo dục và dân trí tốt phải là, đi sau thì nên học bài của người đi trước. Ta đi sau Thái Lan, Mã Lai, Singapore, nhưng ta lại dùng lý trí “làm theo kiểu Việt Nam” thành ra dân ta đã khổ lại vẫn khổ dài dài. Triều Nguyễn, triều Lê, triều Trần… ngày xưa cũng vậy. Ta bây giờ cũng vậy.

Trân trọng, PLĐ

 

CCB đã nói 23/05/2012 lúc 16:21

Tôi cũng có suy nghĩ như bạn , đằng sau vấn đề ĐHN còn có ý đồ QS-CT. Có lẽ một lần nữa VN lại được lịch sử chọn làm nơi đối đầu giữ các cường quốc.Tôi hình dung thế này , Mỹ và các nước ĐNA muốn ảnh hưởng đến phương Bắc ( TQ, Nga) thì con đường tốt nhật là qua VN và ngược lại TQ, Nga muốn bành trướng xuống Đông nam Á thì con đường tốt nhất cũng là qua VN (Điều này đã được minh chứng qua CT VN).

Sau chiến tranh lạnh về bề ngoài thì mọi xung đột đối đầu tưởng như đã qua song trên thực tế vẫn gay gắt cụ thể là mối quan hệ Nga ,TQ ,Mỹ gần đây.Nay các nước lớn đều ủng hộ ĐHN ở VN chẳng khác gì họ đặt một quả bom nguyên tử trên mặt trận chiến lược này mà lại không bị ràng buộc bởi bất kỳ hiệp ước nào kể cả IAEA và khi cần thì BUM như TRERNOBUN.

Như Không đã nói 24/05/2012 lúc 09:00

Việc này tương tự như tình hình ở Trung Đông, nước Israel là đồng minh chiến lược của USA, nghe đâu cũng được trang bị vũ khí hạt nhân để khống chế các nước Trung Đông cứng đầu, không chịu thần phục, nhất là nước Iran. E rằng VN là con bài chiến lược của Mỹ và đồng minh để giảm áp lực từ phương Bắc???

Trả lời các bạn Như Không và CCB

Tôi không nghi ngờ quá nặng như quí vị. Mỹ rất sợ các nước nhỏ và độc tài có bom nguyên tử, vì những lãnh đạo ở địa vị cao tại các xứ đó phần lớn nhờ gian dối và bạo lực. Họ không có trí tuệ và đạo đức lo cho người dân, nói chi tới tương lai của nhân loại. Khi có chiến tranh sống chết thì không ràng buộc nào làm trùn được ý chí tự vệ sự sống, và nếu phải dùng bom nguyên tử thì họ sẽ dùng. Chính thế Mỹ một mặt ngăn ngừa các nước nhỏ làm bom, một mặt khác công ký với các nước lớn là nếu dùng bom thì sẽ làm quả đất hủy diệt bởi cái gọi là “mùa đông nguyên tử–nuclear winter- khi nhiều bom nguyên tử làm bụi che kín trái đất và ánh sáng mặt trời không len lỏi vào được nhiều chục năm. Mọi sinh vật đều chết hết.”

Khi gặp các trường hợp “ngoan cố”, đôi khi Mỹ nhượng bộ một chút sau khi suy tính các hơn thiệt. Đó là kỹ năng ngoại giao, có tiến có thoái. Còn việc xây nhà máy ĐHN tại Việt Nam, tôi nghĩ không cường quốc nào xúi dục Việt Nam đâu. Đó chỉ là ý chí của lãnh đạo Việt Nam mà thôi. Ở đời, khôn sống dại chết. Và khoa trương mà không có thực lực là dại!

Trân trọng, PLĐ

 

Nguyễn Duy Vinh (TS Cơ Khí Động Học, Canada) đã nói 23/05/2012 lúc 04:50

Trong bài viết tôi đóng góp trước đây được đăng ở bô xít online về đề tài DHN, tôi có đưa ra 3 tiêu chuẩn (và cũng là 3 câu hỏi) và theo tôi bất cứ một dự án nào về DHN nào cũng phải có câu trả lời chắc chắn về 3 câu hỏi này, dù nhỏ cách mấy (từ 200 MW đến 300 MW và nổi trên nước như TS Phùng Liên Đoàn đề nghị) và tôi xin chép lại những câu hỏi này dưới đây :

“…”

Trả lời bạn Nguyễn Duy Vinh

Ba vấn đề bạn nêu ra cũng là những vấn đề cần bàn cãi:

  1. Tiền ở đâu? Các nước có nhiều tiền như Đài Loan, Hàn Quốc, Mã Lai, Singapore, Qatar…mà xây nhà máy ĐHN bởi vì họ thực sự cần điện và giải pháp ĐHN là tốt hơn các giải pháp khác. Họ có tiền và hạ tầng cơ sở tốt, vì thế giao dịch với các nước bán ĐHN trên bình diện ngang hàng, sòng phẳng. Việt Nam ta khác. Tiền của ta có được nhờ bán gạo, bán cà phê, xuất khẩu lao động, và viện trợ của các nước giầu. Ta làm các chương trình lớn như xây đường, xây cầu, khai thác mỏ… đều phải nhờ ngoại quốc và nhờ họ dàn xếp cho ta vay tiền cũng như đào tạo nhân lực cho ta. Nợ xây nhà máy ĐHN phải trả dần tới 15-20 năm. Sau này các vị lãnh đạo ngày nay đã qui tiên thì con cháu ta vẫn phải trả, hoặc vác cái mặt nạ là “trả không nổi” nếu các nhà máy đó không chạy vì quản trị kém. Tương lai nước Việt Nam như vậy sẽ không khi nào khá cả. Người nước ta không được kính trọng.
  2. An toàn: Như tôi đã nói nhiều lần, ngoài các thiên tai khó tiên đoán như Fukushima, phần lớn các nhà máy ĐHN ngày nay đều rất an toàn bởi có những hệ thống làm nguội lò bằng những nguyên lý thiên nhiên. Nhưng cũng vì có nhiều luật lệ và thiết bị an toàn, rủi ro là rất lớn nhà máy làm ra mà không sản xuất điện như dự tính. Ta sẽ thua lỗ to. Trong chiến tranh, các nước lớn có một nguyên tắc chung là không phá hoại các nhà máy ĐHN vì sự tuôn phóng xạ có ảnh hưởng tới toàn thế giới. Nhưng họ chỉ làm cho các nhà máy này không chạy được mà thôi, ví như phá hoại đường giây dẫn điện, phá hoại cách làm điện, phá hoại bến cảng… những việc khá dễ làm và khiến các hoạt động kinh tế và quốc phòng của ta bị tê liệt. Ta sẽ trở lại thời đồng đá như hồi Mỹ oanh tạc các cơ sở kinh tế vào những năm 1960s, 1970s. Ngay các lực lượng khủng bố trong xã hội cũng có thể làm được việc đó nếu ta không san sẻ ra mà xây các nhà máy nhỏ hơn.
  3. Xử lý các thanh nhiên liệu đã dùng: Việc này ta không phải lo nhiều, bởi vì sẽ không nước nào bán nhiên liệu hạt nhân cho ta mà không có những dàn xếp trước về các thanh nhiên liệu phế thải. Thực ra, xử lý các thanh này không khó khăn như ta thường đọc thấy trên sách báo,  nhưng chúng chứa khoảng 0.8% chất plutonium và 1% chất uranium-235, có thể thanh lọc làm bom, hoặc làm nhiên liệu mới. (Mỗi lần thay 100 tấn nhiên liệu như vậy tại một lò 1000 MW thì có tới 1.8 tấn plutonium và uranium-235, có giá trị hơn 3.6 tấn vàng nếu làm điện, hoặc hơn chục quả bom nguyên tử nếu dùng làm vũ khí.) Người ta sẽ không cho phép các nước nhỏ bảo quản các thanh nhiên liệu đã dùng rồi. Ta sẽ phải trả tiền cho họ đem các thanh nhiên liệu đó về nguyên quán để chôn đi hoặc làm nhiên liệu cho lò phản ứng dùng plutonium.

Trân trọng, PLĐ

 

Ngô Đức Thọ đã nói 23/05/2012 lúc 03:54

Tôi Ngô Đức Thọ làm công tác nghiên cứu di sản Hán Nôm. Tôi chỉ có trình độ phổ thông như các công dân bình thường khác, nhưng tôi chăm chú theo dõi và hoan nghênh các bài viết sớm nhất của anh trước đây đã đăng trên BoxitVN. Cảm phục sự kiên trì, điềm đạm của anh, một lòng chân thành chỉ vì lợi ích của đất nước chứ không vì bất cứ điều nhỏ nhen nào khác.Nếu nói đất nước cần một sự phản biện, góp ý chân thành của một nhà khoa học đúng chuyên môn có trình độ cao, thì bức thư 8 điều VN không nên làm điện hạt nhân của anh đấy!

Đó là bức thư bằng vàng ròng vàng khối, phải đánh đổi hơn 50 kinh nghiệm trong ngành điện hạt nhân ở quốc gia tiên tiến nhất thế giới mới có được bức thư 8 điểm của anh! Thế nhưng, tôi không dám tin mấy rằng bài viết tâm huyết này sẽ được người có trách nhiệm liếc đến. Buồn qúa anh ạ, nhưng dù sao vẫn cần gắng thêm lần cuối cùng: Chân thành mong anh kiên nhẫn tự cầm bút mực viết tay một bức thư gửi đến người đứng đầu Nhà nước VN (là ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang) để xem có hồi âm gì không?

Chúc anh vui mạnh và tiếp tục có nhiều thành tựu.

Ngô Đức Thọ (Hà Nội)

Trả lời bạn Ngô Đức Thọ

Xin cảm ơn sự ưu ái của anh. Các đây 20 năm tôi đã nói chuyện với ông Trương Tấn Sang rồi, khi ông ấy làm chủ tịch thành phố HCM. Và cũng xin báo anh biết một số bạn muốn tôi viết một lá thư tiếp nối lá thư của các bạn Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn thế Hùng, Nguyễn Hùng, với tư cách “tự chế” của người đi vay nợ để kiến quốc lợi dân, và gửi tới bốn nơi: lãnh đạo Việt Nam, thủ tướng Nhật, tổng thống Nga, và Tổng Giám Đốc Cơ Quan Nguyên Tử Quốc Tế. Chúng tôi định xin chữ ký của cả ngàn người trước khi gửi.

Trân trọng, PLĐ

 

Nguyễn thành Hà đã nói 23/05/2012 lúc 02:41

Kính Anh Đoàn,
Tôi tên Nguyễn Thành Hà, 60 tuổi hiện ở Florida, Đọc bài viết của anh, rồi đọc thư gởi đại sư Phillipin của gần 70 trí thức trong ngoài nước trên anhbasam, tôi mừng lắm vì càng ngày càng có nhiều trí thức và tâm huyết, những người có tấm lòng quan tâm với vận mệnh đất nước, với thân phận dân tộc, thân phận của người dân đen.

“…”

cecile đã nói 23/05/2012 lúc 04:22

Kinh anh Hà,
Tôi là 1 phu nu, trong những chuyên vê VN tôi nhân thây dân ta quá thiếu thưc phẩm, thiêu rau, thiếu thit, thiếu sữa ,,, vì dân quá đông mà nông nghiêp quá lac hâu. Tôi rất đau lòng, nhất là cho dân nghèo và mong mõi làm đươc cái gì đó. Tôi có môt vài anh ban cũng cùng nguyên vong nhưng chúng tôi không biết cu thể về cach thức và khả năng han hep…. Nay nghe anh nuôi tôm, trồng cây …. tôi rất vui, xuất thân tôi cũng ngành sinh vât, nhưng bỏ nghề đã lâu, nên nếu anh cần thêm môt tay tôi hết sức hân hanh gop phần

“…”

Hai Lúa đã nói 23/05/2012 lúc 08:12

Xin các bác cho Hai lúa ké một chân với nhé….
Lúa thì không kinh nghiệm như các bác, kiến thức có hạn, chuyên môn học cái “bé tí” bên trong cây con thôi, nhưng có lòng, nghe nói vụ cây con là lúa ham lắm. Mong có dịp hầu chuyện và học hỏi kinh nghiệm từ các bác.
Nếu bác Hà, Bác Cecile đồng ý thì reply cho Hai Lúa qua cái topic này…. Cảm ơn các bác nhiều nhiều.

“Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”
Hổng biết tắm xong có bị ghẻ hông nữa ??????

Trả lời các bạn Hà, Cecile, Hai Lúa:

Thưa các anh chị: Tôi có làm việc với hơn 40 hội phi chính phủ giúp cho người dân Việt từ gốc rễ – sức khỏe, trường học, nước sạch, xấy lúa, xây nhà vệ sinh, mổ xẻ chân tay khuyết tật, mổ xẻ bệnh quáng gà… Một cây làm chẳng nên non. Các bạn nên chung sức với nhau và tìm những thí điểm có chính quyền địa phương tốt cộng tác giúp người dân. Năm ngoái, nhân dự cuộc họp của Friends of Hue Foundation (FriendsofHue.org), tôi có gặp một nhóm người (rootsofpeace.org) nói có thể giúp Việt Nam trồng cocoa có lợi nhuận cao hơn cà phê.  Vài năm trước tôi có làm việc với công ty Heat Pipe Technologies của anh Đinh Khánh (Heatpipe.com) tại Florida, chuyên môn các dịch vụ làm khô không khí, như vậy xấy lúa mau hơn. Các bạn không nên làm đơn độc.

Trân trọng, PLĐ

 

thuong binh – Trại Mỗ đã nói 23/05/2012 lúc 02:38

Tôi chỉ hiểu sơ sơ về nguyên lí hoạt đông của ĐHN ,nhưng qua bài này cũng biết thêm nhiều điều thú vị. Một bài viết hay thú vị, người đọc trình độ không cao có thể hiểu phần nào. Tôi thích nhất cái dự án ĐHN nổi, vừa kinh tế vừa an toàn

“…”

Trả lời thương binh Trại Mỗ

Bạn nói đúng vào nguyên lý cơ bản của việc kiến quốc, xây dựng tương lai. Ta không thể có dân giầu, nước mạnh; xã hội tự do, dân chủ, văn minh, nếu ta chỉ diệu võ dương oai với một vài “đại hiệp” về toán, về cờ, về vật lý, về thiên văn, về “nhất này nhất nọ”. Ta phải tìm cách nâng cao sự hiểu biết, tay nghề giỏi, và công việc vững chãi của cả 90 triệu dân, trong đó ít nhất 30% là thanh thiếu niên là người chủ tương lai của đất nước. Khi mà trường học của ta còn thiếu phương tiện nước sạch và vệ sinh, nhà thương của ta còn chật chội bon chen, môi trường của ta còn bị tàn phá không ý thức…thì có tới 10 ông trạng bẩm sinh như Ngô Bảo Châu, Nguyễn Thái Sơn… cũng chỉ ra nước ngoài làm việc kiếm sống và đóng góp cho thế giới mà thôi, chứ người dân ta không được lợi gì. Và ở các xứ tiên tiến, họ cũng chỉ là những người “bình thường”.

Lãnh đạo chân chính nước nào cũng nói: “người dân là tài sản quí nhất của đất nước.” Ta cần dùng tiền của ĐHN để tu bổ giáo dục, nhà thương, các phương tiện sống trong nước, ngăn ngừa bão lụt… để người dân có cơ hội phát triển như lúa có ánh sáng mặt trời và mưa gió điều hòa. Như vậy thì sẽ ít ai than phiền hoặc xấu hổ ta không có ĐHN. Người nước ngoài kính trọng người Anh, Mỹ, Pháp, Nhật, Đức… là ở nhân cách và nội lực của họ, chứ không phải là ở chỗ có nhiều nhà máy ĐHN.

Trân trọng, PLĐ

 

Hà Văn Thịnh đã nói 23/05/2012 lúc 01:15

Cách đây mấy năm, tôi có bài viết trong đó nói rằng ước gì Việt Nam có nhiều người như bác Phùng Liên Đoàn. Qua bài viết này, một lần nữa xin cảm ơn bác và xin Trời, Phật phù hộ để lãnh đạo Việt Nam tỉnh táo và bớt tham lam một lần. Ít nhất, chỉ lần này thôi, bằng cách dừng chương trình ĐHN Ninh Thuận tốn kém và vô cùng nhiều hệ lụy, cũng phúc tổ cho con cháu Lạc Hồng rồi…

Xin cảm ơn các lời ưu ái của GS Thịnh. Chúng ta cần khuyến khích giới trẻ nghĩ nhiều hơn về tương lai của đất nước, của người Việt Nam. Trân trọng, PLĐ

 

Hoàng Xuân Phú đã nói 23/05/2012 lúc 00:36

Một bài viết tuyệt vời của một chuyên gia lão luyện!!!

Tất cả những người liên quan đến việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam (Quốc hội, Bộ chính trị, TƯ ĐCSVN, Chính phủ, Bộ KH&CN, các nhà chuyên môn trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử…) nên nghiên cứu kỹ bài này.

Cảm ơn TS Phùng Liên Đoàn!

Cảm ơn BS đã đăng bài này!

Xin cảm ơn lòng ưu ái của GS Phú. Các bài khảo cứu của GS về ĐHN là một “tour de force” của một trí tuệ trong sáng. PLĐ

 

leanvi đã nói 22/05/2012 lúc 22:50

Hoan nghênh Basam đã đưa một thông tin quan trọng – Giải pháp cứu nguy cho VN trước nguy cơ của một quyết định phản dân chủ của TTg CPVN và Nhóm lợi ích về Xây dựng các Nhà máy Điện nguyên tử tại VN. Như chuyên gia Phùng Liên Đoàn đã phân tích từ những trải nghiệm cả cuộc đời của mình , 40 năm trong ngành năng lượng Điện nguyên tử tại Mỹ , Quốc gia hàng đầu về ĐNT trên TG.

Trả lời Leanvi

Xin cảm ơn nhiệt tình của bạn. Tuy nhiên, ĐHN sẽ không khi nào gây ra “một vùng đất thiêng liêng cùng với nền văn hóa dân tộc Chăm sẽ vĩnh viễn bị xóa sổ.” như bạn nói đâu. Người Chăm có tồn tại và đất Ninh Thuận có phồn vinh không là do cách hành xử của người Kinh và cách phấn đấu của người Chăm mà thôi. Ở đời, luật rừng là mạnh được yếu thua, mong rằng ở thế kỷ 21 ta sẽ hành xử văn minh hơn với dân tộc Chăm một thời hùng tráng, cũng như ta muốn Trung Quốc hành xử văn minh hơn với ta.

Trân trọng, PLĐ.

_______

nguồn: http://anhbasam.wordpress.com/2012/05/29/1040-ts-phung-lien-doan-tra-loi-cac-phan-hoi-trong-bai-ve-dien-hat-nhan/

.

Read Full Post »

TÁM LÝ DO VIỆT NAM SẼ CÓ LỢI

NẾU CHÍNH PHỦ HOÃN XÂY NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN

_________________________

Phùng Liên Đoàn

Chuyên viên an toàn, môi trường và kinh tế Điện hạt nhân đã làm việc tại Mỹ 40 năm.

Nước Việt Nam đang đi ngược lại xu hướng trên thế giới là phải hết sức thận trọng trong việc xây nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) vì hai lý do chính: ĐHN có rủi ro gây tai nạn phóng xạ, và ĐHN rất đắt tiền. Việc đi ngược lại xu hướng này không phải vì Việt Nam có một nền kinh tế mạnh hoặc một đội ngũ chuyên viên ĐHN chuyên nghiệp như Nga, Nhật, Đức, Mỹ, Pháp… mà vì lãnh đạo ta có một quyết tâm chính trị rất cao và có quyền không cần tham khảo ý dân. Quí vị lãnh đạo ta biết hết, lại tin vào lời báo cáo của cấp dưới là trong tương lai ta rất thiếu điện và ĐHN thế hệ lò thứ ba rất an toàn. Ngay sau biến cố Fukushima lãnh đạo ta vẫn khẳng định mạnh mẽ hơn thủ tướng Đức và thủ tướng Nhật là Việt Nam vẫn tiến tới việc xây nhà máy ĐHN.

Tôi mong mỏi quí vị lãnh đạo tìm hiểu kỹ càng thêm về kỹ thuật và kinh tế ĐHN cũng như quí vị đã để ý rất nhiều về thể diện quốc gia và vai trò chính trị của ĐHN.

Kinh nghiệm của nhiều nước tiên tiến cho biết việc xây nhà máy ĐHN Ninh Thuận và một chuỗi 6 lò ĐHN khác như dự tính không những sẽ không thành công, mà còn làm nước ta phụ thuộc vào nước ngoài nhiều hơn, con cháu ta sẽ còn phải đi làm lao công triền miên cho thiên hạ, và người trong nước thì vẫn thiếu điện để làm ăn. Khi việc này xảy ra vào những năm 2021 – 2030 thì quí vị lãnh đạo ngày nay không còn sống nữa hoặc không còn quyền hành gì nữa. Trách nhiệm về lỗi lầm ai sẽ gánh chịu? Mới 40-70 năm trước, lãnh đạo ta đã hi sinh nhiều triệu con dân Lạc Hồng để thực hiện một niềm tin tuyệt đối là Việt Nam đi đầu đem chủ nghĩa Marx-Lenin tạo hạnh phúc cho nhân loại. Hậu quả của niềm tin đó khiến nước ta tụt hậu, dân ta nghèo hèn, và còn đang gánh chịu đau thương nhiều thế kỷ. Nay ta đã biết gì về ĐHN? Và ta còn thì giờ không để sửa sai một quyết định chính trị rất phi kinh tế phi dân chủ này?

Tôi xin liệt kê dưới đây 8 lý do lãnh đạo Việt Nam nên hoãn xây ĐHN Ninh Thuận để có thì giờ nhìn vào tình hình ĐHN trên thế giới và lắng nghe lời can gián của người dân Việt không những trong nước mà còn rải rác khắp năm châu:

(1) ĐHN rất cần thiết cho tương lai thế giới nhưng chưa cần thiết cho Việt Nam;

(2) Ta đã làm quyết định quan trọng xây nhà máy ĐHN dựa trên phỏng tính thô sơ về nhu cầu điện;

(3) Phỏng đoán giá nhà máy ĐHN quá thấp, ta sẽ phải chi tiền nhiều hơn nếu không bị kiện cáo hoặc bỏ rơi;

(4) Ta tự chuốc lấy thất bại khi ta quyết định mua/xin nhà máy ĐHN của nhiều nước và huấn luyện nhân viên bởi nhiều nước;

(5) Việc ta dùng hơn 150 triệu USD để đào tạo nhân sự ĐHN một mặt thì không đủ, một mặt thì rất phí phạm;

(6) Làm ĐHN là đi ngược lại với nguyên tắc cạnh tranh do Thủ Tướng tuyên bố;

(7) Ta nên dò xét ngay một nguồn năng lượng mới dưới lòng đất của ta;

(8) Bỏ Ninh Thuân, cộng tác với Nga xây ĐHN nổi, tạo được công ăn việc làm cho người dân, và hội nhập ĐHN đặc thù.

Tôi có tư cách gì bàn chuyện quốc gia đại sự này?

Tôi có cơ may tham gia vào các hoạt động hạt nhân của Mỹ trên 40 năm, từ những năm 1960s tới nay, kể cả việc tháo gỡ vũ khí nguyên tử, tẩy uế phóng xạ hậu quả của 50 năm chạy đua vũ khí hạt nhân, và thiết kế nhiều nhà máy ĐHN. Trong thời gian này tôi đã có mặt tại hầu hết các trung tâm nguyên tử của Mỹ, tham dự thiết kế xây dựng 6 nhà máy ĐHN và khảo sát hơn 50 nhà máy khác. Tôi đã tiếp xúc với các kỹ sư Nhật năm 1967 khi họ bắt đầu xây Fukushima Daiichi. Tôi đã học tập cùng với các kỹ sư Hàn Quốc, Đài Loan, Pakistan, Iran… khi những nước này chưa có một nhà máy ĐHN nào. Tôi đã làm việc tại United Engineers & Constructors năm 1967 khi công ty này xây dựng nhà máy Three Mile Island (TMI) tại Pennsylvania, rồi đến năm 1980 thì tôi lại khảo sát tai nạn nóng chảy TMI-2. Tôi đã từng khảo cứu hiện tượng China Syndrome (huyền thoại lò ĐHN nóng chảy tại Mỹ, chìm xuống đất và chui sang tận Tàu). Luận án tiến sĩ của tôi khảo cứu hiện tượng bình thép nặng 600 tấn của lò PWR 1000 MW bị bể, gây tai nạn nóng chảy “ghê gớm nhất”. Tôi là đồng tác giả khảo cứu WASH-1400 năm 1972-1975 là khảo cứu quan trọng nhất của Mỹ về các sự cố ghê gớm của ĐHN, dùng phương pháp rủi ro (probabilistic risk assessment) để làm luật Price Anderson bảo hiểm nhiễm xạ cho người dân. Ông Harold Denton, người được Tổng thống Jimmy Carter bổ nhiệm cứu nguy lò Three Mile Island trong cơn nguy biến tháng 3 năm 1979 là bạn của tôi tại cơ quan Định Chế ĐHN (U.S. Nuclear Regulatory Commission-USNRC) và đến năm 1995 lại là tư vấn trong công ty của tôi tại Oak Ridge, Tennessee. Tôi đã đánh cược 1 USD với ông Robert Bernero, người chuyên khảo cứu sự cố lò BWR (loại Fukushima) tại USNRC, là nhờ bài học TMI-2 Mỹ không thể có một tai nạn nóng chảy nữa tại một nhà máy nước nhẹ trước năm 2000. Tôi đã thắng cuộc; nhưng nếu tính cả tai nạn Chernobyl năm 1986 (không phải loại lò nước nhẹ) và tai nạn Fukushima (sau năm 2000) thì tuy không thua cuộc nhưng tôi cũng coi là thua, bởi vì tôi đã chủ quan quá lố. Tôi đã đặt giải thưởng lấy tên là Weinberg để phát 2 năm một lần tại American Nuclear Society cho một khoa học gia có tâm dùng năng lượng hạt nhân phụng sự xã hội.

Trong suốt 30 năm làm tư vấn nguyên tử tại Mỹ để sinh sống, tôi lại chuyên khá nhiều về kinh tế ĐHN so với các nguồn năng lượng khác. Bài viết của tôi về ĐHN trình bày tại Việt Nam năm 1999 được USNRC lặp lại và kỹ sư Việt Nam tưởng là lý luận của Mỹ nên đã dùng để cổ võ cho việc xây ĐHN tại Việt Nam!

Với các kinh nghiệm thực tế trên, tôi có đôi chút hiểu biết về ĐHN và phải là người rất hăng hái trong việc xây dựng nhà máy ĐHN tại quê hương Việt Nam của tôi giống như một đồng nghiệp, ông Đinh Đức Hữu (nay đã qua đời), để ta có thể “ngang hàng” với các nước Á Châu tiên tiến như Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc,Trung Quốc.

(Xin xem phụ bản 1 phác họa quá trình làm việc của TS Phùng Liên Đoàn)

Nhưng không, với tất cả tâm tư ở tuổi 72 không vụ lợi, không tự ái, và đã nguyện đem hết tài sản của mình giúp trẻ em và người nghèo Việt Nam, tôi xin trình bày 8 lý do tại sao lãnh đạo Việt Nam nên nghĩ tới tương lai của con cháu mà hoãn việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận cho tới khi quí vị tổ chức cho người dân Việt Nam bàn bạc công khai về các lợi hại của chương trình ĐHN. Nếu người dân không có quyền được tham khảo, thì tôi nghĩ họ có quyền để di chúc cho con cháu không trả nợ cho các nước bán ĐHN cho Việt Nam khi mà các lãnh đạo ngày nay không còn sống mà nhận trách nhiệm đó.

Tám lý do đó như sau.

Lý do 1: ĐHN rất cần thiết cho tương lai thế giới nhưng chưa cần thiết cho Việt Nam

Nhiều người Việt cho rằng tai nạn Fukushima năm 2011 thật là khủng khiếp, cùng với tai nạn Chernobyl năm 1986 và TMI-2 năm 1979 chứng tỏ rằng ĐHN là một quái thai khoa học kỹ thuật có hại cho loài người, cần phải dẹp bỏ. Tôi không đồng ý với lý luận dựa trên cảm tính sợ hãi nhưng không thực tế này. Tuy ĐHN thoát thai từ vũ khí hạt nhân, Fukushima và Chernobyl đã làm cả ngàn người nhiễm xạ và gây thiệt hại đất đai trên cả trăm cây số, năng lượng hạt nhân cũng đã đem lại phúc lợi cho nhiều trăm triệu người qua y học, nông nghiệp, ngư nghiệp, cùng là đóng góp 14% điện trên thế giới (1660 tỉ kWh/ năm, đáng giá 100 tỉ USD mỗi năm, và đã như vậy trên 30 năm rồi). Nó cũng giảm thiểu hơn 6 tỉ tấn khí CO2 và cả triệu tấn chất độc hại như thủy ngân, arsenic, nhôm, lưu huỳnh… mỗi năm các nhà máy đốt than đốt dầu thải ra khí quyển, một sự kiện gây đau ốm cho nhiều triệu người, khí quyển hâm nóng, bão tố to hơn, nước biển dâng cao và do đó gây đói kém cho cả tỉ người. Ta không thể đem hiểu biết và kỹ thuật nguyên tử đóng vào chai để cất đi, cũng như ta không thể dẹp bỏ kỹ thuật xe hơi hằng năm giết hơn 300.000 người và làm bị thương nhiều triệu người.

Nhưng ĐHN khó làm, khó điều hành, chỉ khả thi tại các nước giàu dùng rất nhiều năng lượng, có hạ tầng cơ sở tốt, có nhân công với văn hóa kỹ thuật và an toàn ở trình độ cao, kinh tế mạnh. Nước Việt Nam ta hoàn toàn khác. Ta có chiến tranh liên miên từ nhiều thế kỷ, mới hòa bình tương đối vài chục năm, hạ tầng cơ sở còn rất yếu kém, kinh nghiệm an dân tế thế còn rất mỏng manh. Dân ta nghèo, sức thu nhập thua dân các nước tiên tiến cả chục lần (3300 USD/ capita [tính trên đầu người] so với 32.000 -37.000 USD/capita tại Hàn Quốc và Đài Loan). “Rừng vàng biển bạc” của ta chưa được khai thác khoa học đúng mức. Ta còn phải xuất khẩu lao động (thực sự là nô lệ) kiếm ngoại tệ cho ta nhập khẩu các thiết bị cần thiết. Ta nên dùng ngân sách nhỏ bé của ta nâng cao dân trí và cơm no áo ấm cho người dân trước khi phiêu lưu vào ĐHN khó làm và rất đắt mà chỉ các nước có kinh tế mạnh và người dân đã no ấm mới có thể làm nổi. Các lý luận cường điệu “tại sao không?” phần lớn dựa trên những quyết đoán nông cạn và duy ý chí.

Lý do 2: Ta đã làm quyết định quan trọng xây nhà máy ĐHN dựa trên phỏng tính thô sơ về nhu cầu điện

Ngày 27 tháng 7/2011, Thủ tướng Việt Nam ký quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét tới 2030. Theo quy hoạch này, Điện lực Việt Nam (EVN) phỏng tính rằng tới năm 1920 thì Việt Nam cần 330 tỉ kWh và 1930 thì cần 693 tỉ KWh. Như vậy là chỉ 8 năm nữa, năm 2020, ta dùng một số điện ngang với Anh Quốc ngày nay (345 tỉ kWh); và năm 2030, ta dùng một số điện ngang với Đài Loan và Hàn Quốc cộng lại (229 tỉ kWh + 460 tỉ kWh = 689 tỉ kWh). Trong khi đó, GDP ngày nay của Việt Nam là 299 tỉ USD – chỉ bằng 13% GDP của Anh hoặc Hàn Quốc cộng Đài Loan (xem bảng A).

Bảng A: Vài con số GDP và điện (tài liệu CIA WorldFactbook, circa 2011)

Việt Nam Thái Lan Mã Lai Đài Loan Hàn Quốc Anh Quốc Đức Nhật
GDP (tỉ USD) 299 601 447 885 1549 2.250 3.085 4.389
USD/capita 3.300 9.700 15.600 37.900 31.700 35.900 37.900 34.300
E (tỉ kWh) 109,3 139,2 117,9 229,0 460,0 344,7 545,0 860,0
E/GDP (kWh/USD) 0,366 0,232 0,264 0,259 0,297 0,153 0,177 0,196
Tỉ số dùng điện 1 0,63 0,72 0,71 0,81 0,42 0,48 0,54

Mặc dầu các con số trên có nhiều thành tố, ta vẫn có thể kết luận ta dùng điện rất phí phạm, tốn nhiều hơn 20-50% để sản xuất một đơn vị GDP khi so với các nước láng giềng và các nước tiên tiến. Số điện cần thiết cho năm 2020 và 2030 sẽ ít hơn khi ta học hỏi được cách dùng điện nhạy bén hơn. Rõ ràng đây là nhiệm vụ của giáo dục, của việc nâng cao dân trí, của trình độ kỹ thuật. Có người cường điệu cho rằng nhờ ĐHN ta sẽ có trình độ kỹ thuật cao hơn. Họ nên nhìn vào việc ta dùng xe Lexus, điện thoại di động, máy ảnh số… tràn lan trên khắp nẻo đường Việt Nam trong khi ông đại sứ Nhật than phiền không công ty nào trong nước làm được chai thủy tinh theo chuẩn của rượu sake của Nhật sản xuất tại Huế! Kinh tế của Việt Nam sẽ không học hỏi được gì, hoặc chỉ học hỏi tí teo, nơi kỹ thuật ĐHN.

Chính phủ nên hoãn xây nhà máy ĐHN cho tới khi EVN và các nhà kinh tế xác định lại một cách công khai tại sao ta cần nhiều điện như trong quyết định Thủ tướng ký năm 2011.

Lý do 3: Phỏng đoán giá nhà máy ĐHN quá thấp, ta sẽ phải chi tiền nhiều hơn nếu không bị kiện cáo hoặc bỏ rơi

Kinh nghiệm của thế giới là không có nhà máy ĐHN nào xây cất theo đúng giá dự kiến,thường sẽ đắt hơn 50% – 300%. Tôi đã theo dõi giá thành của hơn 30 nhà máy ĐHN tại Mỹ và thấy nhà máy nào cũng đắt hơn dự kiến ban đầu. Có nhiều lý do: (a) mỗi nhà máy là một sản phẩm đặc thù, phụ thuộc vào người xây, thời biểu xây, và các hãng cung cấp thiết bị và nhân sự; (b) luật lệ an toàn ngày một tăng và rắc rối, khiến cho việc xây cất phải sửa đổi, chờ đợi, tăng thêm thiết bị; (c) các hãng bán thiết bị ít khi cam đoan giá cả để còn phòng cơ hội tăng giá; (d) kiện tụng thường xảy ra trong bất cứ chương trình ĐHN nào; và (e) người cổ võ ĐHN thường dấu các cơ nguy tăng giá.

Tại Việt Nam, rủi ro giá thành tăng gấp 200%-300% hơn dự kiến là chắc chắn xảy ra, vì ta mắc phải hầu hết 5 nguyên nhân trên, mà còn mắc thêm hai nguyên nhân nữa; đó là (f) hạ tầng cơ sở của ta rất yếu (đường xá, cầu cống, cảng, vật liệu xây cất), và (g) nhân sự của ta chưa thấm nhuần văn hóa của công nghệ cao.Ta có nhiều ví dụ nhãn tiền các công trình lớn của ta đều đắt hơn dự tính mà lại không bền: nhà máy lọc dầu Dung Quất, đường dây 500 KV, đường Trường Sơn, thủy điện Lai Châu – Sơn La, xa lộ 1000 năm Thăng Long, đường hầm Thủ Thiêm…

Tiền nào của đó. Nếu rẻ thì ít tốt, ít an toàn hơn. Dù Nga có bán rẻ hơn Pháp, dù Nhật có viện trợ cho nhiều, thì nhà máy ĐHN Ninh Thuận cũng sẽ đắt hơn và xây lâu hơn dự tính, vì “đó là Việt Nam”! Ngân sách quốc gia sẽ bị vỡ nợ, không còn đủ tiền lo các vấn đề cấp bách hơn như giáo dục, y tế, quốc phòng, và cứu trợ trong trường hợp thiên tai. Chính phủ cần nhờ những nguồn độc lập đáng tin cậy tính lại cho thật kỹ và công khai giá thành và nguồn vốn xây ĐHN. Các kết quả có tính cách khoa học và thực tế sẽ giúp lãnh đạo quyết định sáng suốt hơn, thay vì “tới đâu hay nấy” theo cách hành xử thông thường tại Việt Nam.

Hầu hết các khảo sát trên thế giới đều kết luận giá thành nhà máy ĐHN là đắt hơn nhà máy đốt than, đốt khí thiên nhiên, và đập thủy điện. Nếu tính tổng thể cả nhiên liệu và điều hành thì điện từ nhà máy ĐHN chỉ kinh tế so với các dạng điện kia tại các nước tiên tiến như Nhật, Hàn, Mỹ, Pháp… Nhưng tại Việt Nam, tôi đã tính là ĐHN sẽ đắt gấp ba giá điện năm 2009, và vào năm 2020, sẽ vẫn đắt hơn điện từ đập nước, từ nhà máy đốt than và nhà máy đốt khí thiên nhiên.

Điện nào chẳng là điện. Lãnh đạo cần tìm đường dễ làm và rẻ tiền thay vì ĐHN để phục vụ người dân Việt Nam vốn đã rất nghèo và bị cúp điện kinh niên. Ta đã tuyên bố không làm bom nguyên tử, vậy thì ta càng nên tránh ĐHN rắc rối, đắt tiền, và có cơ nguy xảy ra tai nạn phóng xạ.

Lý do 4: Ta tự chuốc lấy thất bại khi ta quyết định mua/xin nhà máy ĐHN của nhiều nước và huấn luyện nhân viên bởi nhiều nước

Tại Mỹ, hãng máy bay Southwest Airline lớn mạnh và nổi tiếng làm ăn giỏi và an toàn là nhờ họ chỉ dùng một loại máy bay – Boeing 737; do đó huấn luyện phi công và nhân viên bảo trì một cách đồng nhất và có thể xoay sở dễ dàng khi có nhu cầu thay đổi chuyến bay. Các công ty lớn hơn như American Airlines, Delta Airline, United Airline… đều bị phá sản, vì nhiều lý do trong đó việc dùng nhiều loại máy bay cũng là một yếu tố quan trọng.

Vào những năm 1970-1980, các hãng điện lớn tại Mỹ như Commonwealth Edison, Duke, Tennessee Valley Authority… gặp rất nhiều khó khăn khi dùng nhiều loại nhà máy khác nhau như BWR của General Electric, PWR của Westinghouse, PWR của Babcock and Wilcox, và PWR của Combustion Engineering. Việc dùng nhiều loại lò và nhiều kiểu lớn nhỏ khác nhau khiến nhân viên phải được đào tạo đặc thù, giấy tờ kỹ thuật khác nhau giữa các nhà máy, và hệ thống an toàn khác nhau. Việc này phân tán và làm rối bời lực lượng nhân sự, khiến các nhà máy ĐHN chỉ sản xuất được 50 – 60% điện dự tính, và công ty bị thua lỗ. Ngoài ra, rủi ro có sự cố cũng rất cao. Việt Nam ta đang mắc cái bệnh này, tự cho ta là “khôn” dùng nhiều kỹ thuật “hạng nhất” nhưng ta không biết là đã tự gieo cái mầm có nhiều sự cố trong tương lai. Với vài ngàn nhân viên ĐHN của ta dùng một ngoại ngữ cũng chưa thông, làm sao ta có thể đương đầu với tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Nhật, tiếng Hàn và các tập huấn và luật lệ của họ cùng một lúc? Nếu họ đưa tài liệu và tập huấn ta bằng tiếng Anh thì các huấn luyện viên người Nhật, người Nga, người Hàn có thực thông mấy ngàn dữ kiện bằng tiếng Anh không? Làm sao ta có thể luân chuyển nhân viên từ nhà máy này sang nhà máy khác khi cần thiết? Khi các thiết bị từ con ốc, từ cái máy đo lường đều phải nhập khẩu, thì nhà máy ĐHN không sản xuất điện khi chờ đợi thiết bị được bay tới. Ta đã có kinh nghiệm với Dung Quất rồi, với các xe Lexus, Peugeot, Mercedes rồi, với các máy fax và điện thoại di động rồi. Ta không nên lệ thuộc nước ngoài quá nhiều về các vấn đề sinh tử như điện.

Trong chiến tranh ta có thể sử dụng tinh nhuệ mọi thứ khí giới, nhưng trong hòa bình ta không thể sử dụng tinh nhuệ nhiều loại nhà máy ĐHN. Ta không thể cường điệu “tại sao không?” cho tới khi ta học hỏi thêm về các nhu cầu 100% an toàn và 100% đáng tin cậy của nhà máy ĐHN.

Hoãn xây nhà máy ĐHN trong lúc này khi ta mới tốn vài chục triệu USD là giúp ta không tốn kém nhiều trăm triệu USD vào năm 2013-2015 và nhiều tỷ USD vào những năm 2015-2020.

Lý do 5: Việc ta dùng hơn 150 triệu USD để đào tạo nhân sự ĐHN một mặt thì không đủ, một mặt thì rất phí phạm

Theo chương trình, Việt Nam dự định đào tạo 2400 kỹ sư, 350 thạc sĩ và tiến sĩ từ 2010 tới 2020 để phục vụ nhà máy ĐHN. Đồng thời cũng đào tạo 650 kỹ sư, 250 thạc sĩ và tiến sĩ để phục vụ các ngành liên hệ. Khoảng 10% kỹ sư và 40% thạc sĩ/tiến sĩ là được đào tạo tại ngoại quốc. Ngân sách đào tạo đã được chuẩn y năm 2010 là khoảng 150 triệu USD.

Điện nào chẳng là điện, tại sao ta lại đặc biệt ưu ái đào tạo chuyên viên ĐHN? Tại sao họ lại được học bổng và được đi nước ngoài? Tại sao lương họ lại cao hơn lương kỹ sư tại nhà máy than, nhà máy đập nước? Trong lịch sử của ta gửi người đi du học tại các nước tự do, bao nhiêu người đã trở về làm việc tại Việt Nam? Trong số người trở về Việt Nam, bao nhiêu người còn giữ nghề nghiệp được đào tạo và bao nhiêu người đổi sang nghề khác hoặc lại đi ra nước ngoài làm việc? Nếu kinh tế Việt Nam không phát triển mạnh thì làm sao ta giữ được người tài? Nếu ngành nghề không được tự do thì đến khi nào chính phủ không còn thất bại vì đầu tư nhân sự mà không đạt được mục đích?

Kinh nghiệm tại các nước Âu châu và Mỹ là bằng cấp thạc sĩ tiến sĩ hoàn toàn không cần thiết cho việc điều hành ĐHN và các luật lệ dịch vụ phóng xạ. Thật ra, người ta rất e ngại các người ỷ mình có bằng cấp to mà không tuân thủ luật lệ hoặc làm sái đi vì cho rằng mình biết. Vì thế, ngân sách sẽ tiết kiệm được một số tiền lớn nếu có chính sách rõ ràng là đào tạo thực tập và tinh thần tuân thủ luật lệ chứ không đào tạo thạc sĩ tiến sĩ khảo cứu.

Nhưng với một ngân sách đào tạo như vậy trong một quốc gia mà rất nhiều trường mẫu giáo và tiểu học chưa có những phương tiện học hỏi tối thiểu, chưa có nước sạch và phương tiện vệ sinh tốt, thì ta tự hỏi có nên không? Tại sao ta không đào tạo như vậy đối với các nhân tài điều hành các nhà máy thủy điện, nhiệt điện để họ nâng năng suất và tạo thêm điện ở các dạng rẻ tiền và dễ dàng hơn ĐHN? Nếu ta cũng ưu ái các nhân viên tại các nhà máy sản xuất điện khác thì việc sản xuất thêm số điện 4-10% là rất khả thi thay cho chương trình ĐHN của EVN.

Lý do 6: Làm ĐHN là đi ngược lại với nguyên tắc cạnh tranh do Thủ tướng tuyên bố

Quyết định của Thủ tướng năm 2011 nói rõ chính phủ chỉ giữ độc quyền đường dây chuyển tải điện. Vậy mà chính phủ làm ngược lại chính sách này bằng cách chấp thuận cho EVN, một công ty quốc doanh, dùng quyền thế nhà nước đi vay một số tiền rất lớn để làm ĐHN chưa chắc thành công nhưng chắc chắn toàn thể con cháu ta phải trả nợ. Nếu EVN là công ty tư thì họ có dám phiêu lưu như vậy không? Nếu chính phủ dùng số tiền đào tạo nhân viên ĐHN mà giúp cho tư nhân sản xuất điện tự do thì họ có thể dùng phương pháp dễ hơn để sản xuất 4000 MW điện vào năm 2020-2022 thay cho bốn lò ĐHN không?

Ai cũng biết không tư nhân nào, kể cả các ông tỉ phú ngoại quốc, sẽ bỏ tiền ra xây lò ĐHN cho Việt Nam vì rủi ro rất lớn về đầu tư, kỹ thuật, an toàn, và luật lệ. Ngay các hăng điện lớn của Mỹ còn phải xin chính phủ bảo đảm giùm khi họ đi vay tiền để xây ĐHN. Nếu chính phủ bỏ ra một phần số tiền dành cho ĐHN để khuyến khích tư nhân sản xuất, thì chắc chắn họ sẽ làm điện nhanh hơn và rẻ hơn ĐHN Ninh Thuận. Tôi xin đề nghị một vài phương pháp làm điện rẻ tiền hơn ĐHN:

· Bán rẻ các bóng đèn fluorescent [huỳnh quang] để thay cho các bóng đèn nóng đỏ (incandescent). Các nước tại Úc, Mỹ, Âu đã áp dụng chương trình này từ nhiều năm. Ta chỉ tốn khoảng 500 triệu USD để thay 500 triệu bóng đèn và giúp giảm số điện dùng thắp sáng 60%, không phải xây thêm 6000 MW hay 6 lò ĐHN. Tính ra thì tiền đầu tư “không cần xây thêm” chỉ khoảng 100 USD/kW thay vì 5000 USD/kW ĐHN. Mà việc này có thể làm ngay, kết thúc trong 5 năm, chứ không phải chờ đợi 10-12 năm như xây nhà máy ĐHN.

· Đào tạo nhiều thợ điện chuyên nghiệp để thay các dây điện nhỏ bằng các dây lớn hơn, giảm bớt phí phạm truyền tải trong thành phố từ khoảng 5-7% xuống khoảng 2-4%. Tiền đầu tư này tương đương với khoảng 2000 USD/kW thay vì 5000 USD/kW ĐHN, và còn tạo được cả ngàn công nhân điện có tay nghề và tránh trước rất nhiều nạn cháy nhà cháy chợ.

· Tăng giá điện khi dùng quá một mức tối thiểu. Ví dụ, một gia đình chỉ cần khoảng 100 kWh mỗi tháng để thắp đèn và chạy máy móc, nhưng nếu họ đun bếp bằng điện hoặc có máy làm không khí mát, thì họ có thể phải dùng tới 400-600 kWh mỗi tháng. Nếu giá điện trên 100 kWh mỗi tháng tăng gấp đôi, trên 500 kWh mỗi tháng tăng gấp ba, thì người tiêu thụ sẽ dùng điện ít đi, và người bán điện vẫn có thu nhập khá. Chính sách này có thể tương đương với xây nhà máy điện giá 1000-2000 USD/kW. Ta lại đào tạo được một đội ngũ công nhân làm máy lạnh hiệu quả hơn, bịt kín các phòng có máy lạnh một cách khoa học để không mất khí lạnh, và lắp ráp cửa kính cách nhiệt tốt hơn (hai lớp kính thay vì một).

· Tăng giá thu mua thủy điện lên gần giá sản xuất của nhiệt điện (ví dụ, từ 200 VND/kwh lên 1000 VND/kWh) sẽ giúp bảo trì các đập thủy điện và môi trường rừng tốt hơn, cùng là xúc tác cho người dân làm thủy điện ngay tại các sông ngòi (gọi là thủy điện với thế nước thấp). Việc này có thể tương đương với giá 500-1000 USD/kW thay vì 5000 USD của ĐHN. Ta bảo vệ môi trường, nâng cao an toàn thủy điện, và tạo được việc làm trong nước thay vì cùng tiền đó nhập khẩu điện và nhiên liệu từ nước ngoài.

· Khuyến khích tương tự với điện gió, nhưng không trợ giá cao hơn, vì ta không nên theo xu hướng chính trị của các nước giàu “khuyến khích” dùng năng lượng tái tạo khi giá điện gió không có sức cạnh tranh. Ngay ông Obama của Mỹ đã thực tế hơn, không cổ võ cho “năng lượng tái tạo” mạnh miệng như một sinh viên nữa, mà thực tế hơn về việc dùng khí đốt thiên nhiên có được nhờ kỹ thuật mới tôi sẽ bàn dưới đây.

· Trong mọi cơ hội trên, và các cơ hội tương tự, chính phủ nên chỉ đạo và áp dụng luật một cách nghiêm khắc nhưng công bằng, chứ không nên bắt tay làm, ngay cả qua các công ty quốc doanh là nơi dùng tiền không biết tiếc. Nhất là chính phủ nên áp dụng triệt để các luật an toàn đồng nhất cho người dân và cho môi trường, để ta không còn tệ nạn “nói bẻm mép” về việc “bảo vệ” nhưng khi thực hành thì rất luộm thuộm. Các cơ hội trên có kinh tế không thì thị trường sẽ tự giải quyết một cách tối ưu. Chính phủ sẽ tùy cơ hiệu đính chính sách một cách khôn khéo với sự đóng góp công khai của người dân.

Hoãn xây nhà máy ĐHN và thực hiện các công tác dễ dàng hơn và ít tốn kém hơn như trên sẽ có lợi cho việc xử dụng ngân sách một cách hữu hiệu, tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân, tránh không nhập khẩu những gì không cần thiết, do đó kinh tế có hiệu quả hơn và người dân hạnh phúc hơn. Làm ĐHN là phiêu lưu kinh tế và chính trị. Nó làm kinh tế ta kiệt quệ, người dân không có việc làm, xã hội không ổn định và ta luôn luôn lệ thuộc nước ngoài.

Lý do 7: Ta nên dò xét ngay một nguồn năng lượng mới dưới lòng đất của ta

Trong 5-10 năm qua một hiện tượng khoa học kỹ thuật mới tại Mỹ đã làm đảo lộn chính sách năng lượng của Mỹ. Người ta dùng phương pháp khoan ngang (horizontal drilling) và phương pháp ép vỡ (fracking) đá thủy tra tại dưới sâu 500-3000 m, để khai thác dầu hỏa và hơi khí. Nước Mỹ nay sản xuất thêm được 500.000 tấn dầu mỗi ngày quanh những giếng dầu trước kia tưởng đã cạn. Quan trọng hơn, nước Mỹ dùng cách này tìm được dự trữ khí thiên nhiên có thể dùng suốt 100 năm tới. Việc này khiến cho giá khí thiên nhiên, vốn là một nhiên liệu quí hơn dầu vì dùng dễ hơn và ít ô nhiễm hơn, lại rẻ bằng 20% giá dầu tính theo đơn vị USD/kC hay USD/kWh(nhiệt). Mỹ đang có phong trào dùng khí thiên nhiên chạy 20 triệu xe vận tải lớn, và tạo điện thay cho than và dầu. Xây mới ĐHN tại Mỹ gặp rất nhiều khó khăn vì người ta có thể làm điện bằng khí đốt nhanh hơn và rẻ bằng nửa ĐHN.

Xu hướng khoan ngang và ép vỡ đá cũng đang được xử dụng tại Âu Châu và Trung Quốc. Việt Nam cần thăm dò kỹ thuật này cấp tốc, vì nó có quyết định sống còn với chính sách năng lượng của ta trong vòng 10 năm. Tốn kém chỉ ngang với việc sửa soạn xây nhà máy ĐHN (khoảng 50-100 triệu USD) và cơ may là rất lớn tìm được nhiều khí đốt; ví dụ, tại “vựa than sông Hồng” và các vùng có đá thủy tra. Việc này lại tận dụng được trí tuệ Việt Nam vốn từ xưa tới nay không được trọng bằng trí tuệ nhập khẩu.

Có người cường điệu cho rằng ĐHN dùng rất ít nhiên liệu, ta có thể khai thác mỏ uranium và tự chế các thanh uranium, hoặc ta có thể mua dự trữ các thanh uranium cho các nhà máy ĐHN của ta. Những người này chưa thấu hiểu quá trình tốn kém và khó khăn sản xuất uranium có U-235 giàu hơn thiên nhiên (3-4% thay vì 0,7%). Sau khi có uranium giàu U-235 rồi, việc chế tạo các thanh nhiên liệu cho nhà máy ĐHN lại còn cần một công trình kỹ nghệ tinh vi chỉ vài nước trên thế giới có thể làm (nếu thanh nhiên liệu làm ẩu thì phóng xạ tuôn ra sẽ rất cao, ta không điều hành được nhà máy). Giá nhiên liệu ĐHN khoảng 0,02 USD/kWh, nghĩa là khoảng 140 triệu USD mỗi năm cho một nhà máy 1000 MW. Làm sao ta có tiền mua các nhiên liệu đó dự trữ 5-10 năm?

Nếu Việt Nam có tiền bây giờ để “cam đoan” mua khí thiên nhiên của Mỹ trong 30 năm tới, thì giá khí thiên nhiên ngày nay rất rẻ và xây nhà máy đốt khí thiên nhiên chỉ mất 3 năm. Ta có thể sản xuất điện rẻ bằng 50% điện từ nhà máy ĐHN Ninh Thuận. Tôi đề nghị ta theo chiều hướng này, nhưng tìm khí thiên nhiên ngay trong nước ta thay vì “cam đoan” mua của Mỹ.

(Xin xem phụ bản 2 phác họa kỹ thuật khoan ngang và ép bể đá thủy tra)

Lý do 8: Bỏ Ninh Thuận, cộng tác với Nga xây ĐHN nổi, tạo được công ăn việc làm cho người dân, và hội nhập ĐHN đặc thù

Sau khi lắng nghe các ý kiến công khai về ĐHN, nếu Việt Nam vẫn còn muốn có kỹ nghệ ĐHN cho 30-100 năm tới, thì ta nên tìm phương pháp đặc thù có lợi cho kinh tế Việt Nam.

Một trong các phương pháp đặc thù là xây các nhà máy ĐHN nhỏ trên bè, có thể làm tại một cảng như Cam Ranh rồi kéo tới nơi có nhu cầu điện. Kỹ thuật làm ĐHN trên mặt nước hoặc dưới nước đã chín muồi vì đã thực hiện an toàn tại các tàu ngầm nguyên tử, hàng không mẫu hạm nguyên tử, tàu chở hàng Savannah, và tàu xẻ băng Lenin, và 5-6 nhà máy ĐHN nổi loại Lomonosov đang xây tại Nga. Xây lò ĐHN trên bè thì không sợ động đất. Sóng thần cũng không làm hại được lò vì sóng thần chưa hề phá vỡ các công trình to lớn có tường xi măng cốt sắt bảo vệ. Các lò nhỏ từ 100 tới 300 MW lại rất cần thiết cho các xứ đang mở mang có nhiều bờ biển, như Nhật, Phi Luật Tân, Nam Dương, các nước Phi Châu, các nước Nam Mỹ. Việt Nam có thể điều đình với Nga xây 10 nhà máy ĐHN nổi 200 MW thay vì 2 nhà máy Ninh Thuận. Ta làm dịch vụ đóng bè, tạo công ăn việc làm cho cả chục ngàn người. Nga làm các lò từng loạt trong công xưởng, như vậy giá sẽ rẻ tính theo USD/kW. Các lò này lại có thể thiết kế chỉ thay nhiên liệu 4-5 năm một lần, thay vì 1-2 năm như các lò lớn. Khi ta neo hai nhà máy này gần các nơi cần điện như Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ… thì độ tin cậy luôn luôn có điện (reliability) cao hơn, sự mất điện do truyền tải đi xa cũng ít hơn.

Cơ hội này giúp Việt Nam hội nhập thế giới ĐHN một cách đặc thù, và lại có một kỹ nghệ xuất khẩu ra thế giới thay vì hoàn toàn lệ thuộc vào nhập khẩu. Nhiều chục ngàn người sẽ có công ăn việc làm từ việc xây bè và các phụ sản của lò ĐHN. Nếu lãnh đạo Việt Nam thấy cơ hội này là có lý hơn ĐHN Ninh Thuận, tôi xin xung phong làm việc không lương (dùng lương tương xứng làm học bổng cho sinh viên Việt Nam), trong 3 năm để khởi đầu kỹ nghệ tương lai này cho Việt Nam trước khi chuyển giao cho một đội ngũ lành nghề tiếp tục. Nếu Việt Nam và Nhật bỏ 30 triệu USD để khảo sát địa điểm xây nhà máy Ninh Thuận 2, thì với một số tiền tương tự tôi có thể làm việc với Nhật, với Nga gây dựng kỹ nghệ ĐHN nổi rất an toàn và có triển vọng bán ra khắp thế giới. Tôi có thể hướng dẫn giới trẻ tuổi Việt Nam học hỏi các kinh nghiệm và luật lệ hạt nhân để trở thành tay nghề hàng đầu về ĐHN nổi. Như vậy thì Việt Nam mới có thể tự hào là tiên tiến và có khả năng cạnh tranh kinh tế với kỹ thuật đặc thù.

(Xin xem phụ bản 3, hình TS Phùng Liên Đoàn bàn luận với các khoa học gia Mỹ và Nga năm 2010 về ĐHN nổi.)

Kết luận

Trong thời buổi khó khăn về chính trị, quân sự, kinh tế và ngân sách hiện tại của đất nước, lãnh đạo có cơ hội chuyển đổi tình hình và lòng ưu ái của người dân bằng một quyết định ngoạn mục là hoãn xây nhà máy ĐHN, trưng cầu dân ý theo những ý kiến tôi đề nghị (và nhiều ý kiến khác của trí thức Việt Nam và quốc tế), để hoạch định tương lai ĐHN tại Việt Nam nói riêng, kinh tế Việt Nam nói chung, và xa hơn là tương lai 100 năm của nước Việt Nam. Sự đóng góp của quí vị là ngay bây giờ. Quí vị anh minh thì con cháu ta sau này sẽ nở mày nở mặt. Còn như tiếp tục thiển cận, chậm chạp và độc tài thì quí vị sẽ làm người dân Việt Nam luôn luôn thua kém người dân các nước khác. Quí vị đâu có muốn như thế.

P.L.Đ.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

___________________

Phụ bản 1: Quá trình làm việc của TS Phùng Liên Đoàn

clip_image002

clip_image004

Phụ bản 2: Minh họa kỹ thuật khoan ngang và ép đá dưới sâu cho nứt để lấy dầu, lấy khí thiên nhiên

File:HydroFrac.png

Phụ bản 3: Hình TS Phùng Liên Đoàn bàn luận với các khoa học gia Mỹ và Nga năm 2010 về ĐHN nổi

clip_image008

Chú thích ảnh: Chụp ngày 10/11/ 2010 tại cuộc họp quốc tế của Hội American Nuclear Society

Ngồi, từ trái qua:

  • TS Charles Newstead, viên chức cao cấp về nguyên tử của Bộ Ngoại giao Mỹ.

  • TS Phùng Liên Đoàn, Chủ tịch công ty nguyên tử và môi trường Professional Analysis, Inc.

Đứng, từ trái qua:

  • TS Alvin Trivelpiece, nguyên Thứ trưởng Bộ Năng lượng Mỹ về khoa học kỹ thuật, nguyên Tổng giám đốc Trung tâm Nguyên tử 5000 người Oak Ridge National Laboratory, Tennessee.

  • Viện sĩ Evgeniy Velikhov, TGĐ Viện Nghiên Cứu Kurchatov, Moskva. Ông Velikhov chúc Việt Nam và Nga có thể xây 1000 nhà máy ĐHN trên bè (công suất khoảng 300 MWe mỗi bè) tại bờ bể các nước đang mở mang, với sự bảo đảm an toàn và nhiên liệu bởi các cường quốc.

  • TS Andrew Kadak, nguyên Hội Trưởng Hội Nguyên Tử Mỹ (20.000 hội viên), bạn học của PLĐ.

 

_________________

Nguồn: Bauxite Việt Nam – 23/05/2012

http://boxitvn.blogspot.com/2012/05/tam-ly-do-viet-nam-se-co-loi-neu-chinh_23.html#more

 

 

Read Full Post »