Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘T06/07. Mekong Watch…’ Category

“KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐIỆN HẠT NHÂN CỦA VIỆT NAM

VÀ XUẤT KHẨU CÔNG NGHỆ ĐHN CỦA NHẬT BẢN”

.

Bản báo cáo của Tổ chức Phát Triển Sông Mê-kông. 

Tạm dịch

.
… Ngay cả sau khi tai nạn hạt nhân Fukushima Daiichi xảy ra vào tháng 3/2011, không có động thái nào của cả chính phủ Việt Nam hay Nhật Bản cho thấy sẽ có sự thay đổi về kế hoạch này.
.
Chính phủ Việt Nam đã nhấn mạnh một cách lạc quan rằng, nhà máy ĐHN dự kiến sẽ sử dụng thế hệ công nghệ thứ ba có khả năng tự khống chế, và đây là công trình an toàn đã được thẩm tra bởi Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Ngoài ra chính phủ nước này cũng tuyên bố tỉnh Ninh Thuận – địa phương đặt nhà máy – là một khu vực động đất hầu như không xảy ra, còn sóng thần và các thảm họa thiên tai khác cũng sẽ có các biện pháp đối phó triệt để.
.
Phía chính phủ Nhật Bản thì cho rằng, nếu có yêu cầu từ phía quốc gia mới nổi này thì Nhật Bản sẽ chuẩn bị cho việc cung cấp công nghệ hạt nhân “an toàn”.
.
Trước chủ trương xuất khẩu công nghệ ĐHN của Chính phủ, đã và đang có những phản đối mạnh mẽ từ phía người dân Nhật Bản. Cuối tháng 10/2011, phong trào “Phụ nữ cả nước Nhật hành động vì sự không cần thiết của điện hạt nhân” với mục đích yêu cầu thay đổi phương châm xuất khẩu công nghệ ĐHN cũng như bãi bỏ chương trình nghiên cứu tiền khả thi đang được tiến hành tại Việt Nam… đã thu thập được trên 6.600 chữ ký chỉ trong vòng một ngày, và sau đó đã được đệ trình lên một số vị Bộ trưởng trong đó có Bộ trưởng Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, ông Yukio Edano.
.
Tháng 11 năm 2011, Mekong Watch phối hợp với các cơ quan như Tổ chức phi chính phủ Môi trường quốc tế FOE, Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Xã hội bền vững Nhật Bản (JACSES) đã tiến hành chất vấn Chính phủ về một số thực trạng tại Việt Nam và Jordan như:
(1) Vấn đề xử lý chất thải phóng xạ của nhà máy ĐHN
(2) Kế hoạch sơ tán người dân trong trường hợp xảy ra sự cố hạt nhân,
(3) Việc nghiên cứu phương án thay thế,
(4) Việc thuyết minh, giải thích cho cư dân tại địa phương.
Đáp lại, Chính phủ chỉ có một câu trả lời duy nhất rằng, “Đối với các dự án xây dựng NM ĐHN tại nước ngoài thì việc xem xét và lên các phương án thuộc trách nhiệm của quốc gia đương sự”, và không thể đưa ra giải thích cho từng câu hỏi cụ thể nêu trên.
.
Với dự án xây dựng NM điện hạt nhân tại Việt Nam, việc Nhật Bản sẽ cung cấp cho đối tác “Khoản vay lãi suất thấp và ưu đãi” đã được quyết định (Thoả thuận Nhật-Việt tháng 10/ 2010). Khoản vay này khả năng sẽ tiến hành bởi Ngân hàng Hợp tác Quốc tế – một tổ chức tài chính thuộc Chính phủ. Nếu việc hỗ trợ xây dựng nhà máy này được tiến hành bởi công quỹ, đương nhiên Chính phủ Nhật Bản phải có trách nhiệm giải thích, tuy nhiên Chính phủ đã không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình.
.
Trong năm diễn ra sự cố Fukushima Daiichi, vào ngày 9/12, đúng lúc rất nhiều người Nhật đang lo sợ và khổ sở với ô nhiễm phóng xạ, thì tại kỳ họp lần thứ 179 của Quốc hội Nhật Bản, các hiệp định hợp tác trong lĩnh vực hạt nhân, cơ sở quan trọng để tiến tới việc tiến hành xuất khẩu công nghệ ĐHN giữa Nhật Bản và các nước như Việt Nam, Jordan, Nga, và Hàn Quốc đã được Quốc hội phê duyệt, trong khi những tranh luận về xuất khẩu công nghệ ĐHN còn chưa đi đến hồi kết. Đồng thời với những nỗ lực từ phía các tổ chức phi chính phủ trong đó có Mekong Watch nhằm ngăn chặn việc phê chuẩn những hiệp định hợp tác hạt nhân này, nhiều người dân Nhật Bản đã kêu gọi các nghị sĩ Quốc hội không bỏ phiếu tán thành. Đáp lại, ngay cả trong Đảng cầm quyền cũng có những nghị sĩ vắng mặt hay bỏ phiếu trắng/không thực thi quyền bỏ phiếu, tuy nhiên cuối cùng đã bị thua cuộc.
.
Sau đây chúng tôi sẽ tiếp tục tăng cường hơn nữa việc theo dõi chi tiêu công quỹ đối với dự án này.
.
Các vấn đề lo ngại đối với dự án:
.
– Những rủi ro về sự cố nội tại của một nhà máy ĐHN
– Xuất khẩu ra nước ngoài một vấn đề mà hiện Nhật Bản cũng chưa thể giải quyết
– Vấn đề chất thải phóng xạ, đặc biệt là việc xử lý nguyên liệu phóng xạ đã qua sử dụng của các lò phản ứng hạt nhân
– Tính chính đáng của việc chi tiêu, phân bổ tiền thuế của người dân: phục vụ lợi ích một bộ phận doanh nghiệp
.
Một số vấn đề có khởi nguồn từ tình hình xã hội của Việt Nam:
.
– Thiếu những tranh luận dân chủ và những thông tin công khai
– Sự khó khăn trong tiếp cận thông tin của cư dân địa phương, người dân tộc thiểu số
– Những rủi ro trong quá trình xây dựng và vận hành nhà máy ĐHN
– Tham nhũng, quan liêu thoái hóa và quản trị nhà nước
– Trong quá trình xuất khẩu công nghệ, Nhật Bản đồng thời cũng chuyển giao cho đối tác cơ chế năng lượng cồng kềnh, tốn kém của mình…
__________
.
NGUỒN:
.

ベトナムの原発開発計画と日本の原発輸出

.
.
Trích
.
…  2011年3月の福島第一原発事故後も、ベトナム、日本政府共に計画変更の動きはありませんでした。ベトナム政府は、ベトナ ムで建設予定の原発は全てが自動で制御される第三世代であり、国際原子力機構(IAEA)によって査定された安全な施設であるとアピールしています。また、建設予定地のニントゥアン省は、地震がほとんどない地域で、津波やその他の自然災害に対して万全の施策を講じる、とも主張しています。日本政府も、新興国から要請があれば日本の「安全」な原子力技術を提供する用意がある、としています。
.
このような日本の原発輸出政策には市民から強い反発があります。2011年10月末「原発いらない全国の女たちアクション」はベトナムへの原発輸出方針の転換、実施中の実行可能性調査の打ち切りなどを求める署名をたった一日で6600筆以上集め、枝野幸男経済産業相らに提出しています。メコン・ウォッチも2011年11月、国際環境NGO FoE Japan(エフ・オー・イー・ジャパン)、「環境・持続社会」研究センター(JACSES)と共同で、ベトナム、ヨルダンにおける1)放射性廃棄物の処理、2)避難計画、3)代替案の検討、4)住民への説明などの状況について日本政府に質問しました。政府は「原発計画に対しては当該国が責任をもって検討・立案する」とのみ回答しましたが、具体的な事項については説明することができませんでした。ベトナムの原発に対しては、日本は、「低利かつ優遇的な融資」を提供することとなっています(2010年10月日越合意)。これは政府系金融機関の国際協力銀行の融資が想定されます。日本政府が原発建設を公的資金で支援するのであれば、当然その説明責任を負います。しかし、日本政府はその責任を果たしていません。
.
福島原発事故が起きたその年、多くの人々が被ばくの不安と恐怖に苦しめられている只中の2011年12月9日、第179回国会で、ベトナム、ヨルダン、ロシア、韓国との原子力協定が承認され、原発輸出に向けた重要な動きとなりました。原発輸出の是非に関する議論は尽くされないままです。メコン・ウォッチなどのNGOはこの原子力協定批准阻止に向け総力を結集し、多くの市民が議員に賛成票を投じないように呼びかけました。これに応じて、与党でも欠席・棄権をした議員がでましたが、力及びませんでした。 私たちは引き続き、この事業にこれ以上公的資金が投入されないよう、監視を強めていきます。
.
>>関連情報はこちら
.
    建設予定地近くの村にて(写真提供:FoE Japan
.
懸念される問題点
.
・原子力発電所が内在している事故のリスク ・日本で解決されてない問題の輸出  放射性廃棄物、特に使用済み燃料の処理問題 ・税金投与の正当性  一部の企業への利益誘導 ・ベトナムの社会状況に起因する問題  民主的な議論 情報公開の不足  地元の住民、少数民族は情報アクセスが困難  施工・運転リスク  汚職・腐敗・ガバナンス ・日本のエネルギー大量消費の構造の輸出
.
________
nguồn: Blog Bảo Vệ Tổ Quốc, 07/06/2012
.

Read Full Post »